IJKL

Dong mắt qua giò hoa tử đinh hương tím ngắt, phía bên kia lớp cửa kính là cả thành phố yên bình và có nắng nhẹ. 9h sáng, nhìn xuống dưới, gió không ngừng thổi, xao xác từng cành cây cụm lá, chỗ thì xanh thăm thẳm, chỗ lại mơn mởn những khóm chồi xanh non ngơ ngác. Trời ơi, chẳng phải con người ta cảm thấy đau khổ nhất chính là khi bị người khác đấm cho gãy mũi hay sao. Tuy thực sự nó không hẳn là gãy (nếu ám chỉ về khía cạnh xương xẩu), mà chỉ là một chút sự sai lệch của các mô sụn khiến cho hình dạng sống mũi nghuệch ngoạc, bớt thẳng thớm hơn nhiều so với lúc bình thường thôi. Nhưng mà cái dị tật ấy sẽ đeo đuổi số phận ta đến hết cái cuộc đời này. Hết cái cuộc đời này cơ đấy. Nhìn vào khuôn mặt phản chiếu phần nào qua tấm kính trong, vết gãy hằn lên nỗi sợ hãi, dù nhỏ nhoi – có lẽ khoảng một phần nghìn giây – thoáng hiền hiện lên tấm màn vô thanh của ký ức. Hơi thở tù túng phả đọng trên bề mặt kính, khiến cảnh vật trở nên trắng xóa, khô tanh, mờ ảo. Đẩy chiếc cửa sổ trượt sang bên; một cơn gió mạnh và buốt giá thốc thẳng vào phòng, làm tung bay rèm treo. Tôi lò dò thòng hai chân qua thành cửa, rồi cứ thế bám mình ngồi đó vắt vẻo trông chờ điều kỳ diệu của mùa xuân.

 

Đám người đứng dàn ngang đằng sau dãy lưới sắt đan mắt cáo là một đám chết rồi. Họ lặng im và dường như không còn hồn phách; như thể họ đang đứng lơ lửng ở giữa thinh không, giữa trời và đất, rồi bỗng chốc tâm trí ngắt phụt, để mặc thân xác cứ thế bị mặt đất hút xuống dưới một cách bạo liệt. Họ chờ một tiếng “Bịch!” gọn ghẽ vang lên. Cú húc tàn khốc vào lớp sỏi đá cứng ngắc sẽ khiến họ lìa đời ngay trong khoảnh khắc. Không có lấy một ai cảm thương cho họ cả. Ở bất cứ nơi nào chiến trận diễn ra. Vận mệnh con người rồi lại thành muối bỏ bể.

 

Tết và sau đó là chuỗi ngày tháng thường nhật chòng chành sóng sánh. Mọi thứ đến quá nhanh và đi cũng thật quá nhanh. Những bộ phim không dàn dựng. Không chịu chi phối bởi bất cứ tay đạo diễn nào. Cứ thế chiếu. Mọi người hòa trong cái nhịp diễn vô thường đó nhưng đều không biết là mình đang diễn. Họ diễn không có sự chỉ dẫn, không phân cảnh, không nhận biết được đâu là góc máy đẹp, rất nhiều cung bậc cảm xúc, vô cùng tự nhiên, mà phần nhiều thô tục. Nhưng trên hết, bất ngờ là họ lại đang diễn theo những kịch bản đã có sẵn. Cứ như là họ biết nó, sâu trong tiềm thức. Những mô-típ xã hội kinh điển mang đặc điểm giống nòi – ý ở đây hẳn là ám chỉ về cuộc sống bầy đàn của lũ khỉ rừng, lũ tinh tinh, lũ vượn; xa xôi hơn là lũ ngựa vằn, lũ cầy hương và lũ hổ đói – được họ kế thừa từ trong trứng nước, đẩy họ vào chuyến du hành xuyên thời gian từ lúc còn là đứa trẻ sơ sinh được bồng bế, được âu yếm rất mực; cho đến khi lẻ loi đơn độc tuổi già. Tôi cũng đã diễn. Được chừng ấy cuộc đời, cho đến lúc tôi 22 tuổi thì tôi biết là mình đã diễn. Lang thang phố khuya, những góc xó xỉnh, lúc 22 tuổi, chỉ có tiếng chân bước nối tiếp tiếng chân bước, cuộc đời chưa định hình, tâm trí mới chỉ dấy lên mơ hồ một nỗi ám ảnh mang tên Kafka và con Quạ, những cơn mưa cá và đỉa, một ông lão mèo (mà sau này tôi liên tục quên và nhớ nhầm tên thành Ushikawa – một kẻ chết trôi dị hợm ở “1Q84”), và gã đại tá Sanders dẩm dít gà quay hay mì xào bò gì đấy. Lúc tôi 22 tuổi, chỉ còn vỏn vẹn hai ngày nữa là hết năm, khi mọi người đã chuẩn bị được khá nhiều thứ cho năm mới sắp sang, cho đêm giao thừa, huyên thuyên hết trong nhà ra đầu xóm, thì tôi quyết định đánh liều đi bộ một vòng.

 

Tôi đi bộ đến lúc 24 tuổi thì trở về với thực tại. Hà Nội chưa bao giờ và cũng sẽ không bao giờ đẹp nhất về đêm. Hà Nội chỉ đẹp nhất khi con người ta cảm thấy trống vắng trong lòng. Khi con người ta không còn ai để nghĩ về nữa; khi tôi bỗng dưng tìm ra được chân lý là bản thân mình hoàn toàn có thể điều khiển được đôi chân của tôi đi về/hướng đến bất cứ nơi nào mà tôi muốn. Khi đó, tôi bắt đầu diễn cho mọi người nhìn. Tôi diễn và soi xét mọi phản ứng nếu có của họ. Giống như việc theo dõi một cách chăm chú, ngưỡng mộ, không chút dè chừng những phương trình hóa học mà được trình diễn thực nghiệm ngay tận sát mắt. Nó hồi hộp, ẩn chứa bất ngờ và đau đớn y như khi tôi vô tình thở mạnh vào một đám ni-tơ tri-i-ốt-đít để rồi bị bay mất cái chóp mũi của mình ngay sau đó vậy..

 

Vào một buổi chiều nắng đơm ngoài bậc cửa, tôi bảo Hân: “Em có biết là em đẹp lắm không hử Hân?”. Nhưng có vẻ lời nói đó không khiến em quan tâm cho lắm; em chẳng đáp lại, mà hình như cũng có thì phải, em có mấp máy môi rì rào mấy từ ngữ lẫn vào tiếng gió trào qua khe cửa sổ không đóng chặt, đúng vào khoảnh khắc tôi hết kiên nhẫn chờ đợi câu tiếp chuyện của em mà ngoảnh mặt đi, thế nên là tôi chẳng nghe rõ hay lưu tâm gì cả. Hình ảnh khuôn mặt em đang đau đáu với những đường cọ dài, chốc chốc cứ thập thò lấp lánh sau chiếc giá vẽ cũng chỉ vội sượt qua ý nghĩ nào đó của tôi rồi biến mất. Thực ra bất kể khi nào em bộc lộ niềm say mê của mình; khi em ăn, khi em uống, khi em đứng trên vỉa hè, khi em chỉnh từng ly váy cho khoảng cách giữa chúng đạt độ hoàn hảo mới thôi, khi em khắc họa người ta trên lớp giấy can-sông âm ẩm toàn là màu bùn đất với màu than đá, còn tóc họ thì có màu như thứ tảo đỏ chết trên những rặng san hô ngoài biển ấm, khi em chìm vào một bức ảnh phim ố màu thời gian; thì em trở nên tuyệt đẹp hơn hết thảy. “Hân, chứ em tự thấy mình đẹp nhất ở điểm gì?”. “Là tâm hồn anh ạ.”. Nắng cứ ngả đều ra khắp sân trường, đổ lên cột đá. Tôi rời bậc thềm đi dạo với lon nước đã thôi sủi tăm trên tay. Hân đang mải tìm tuýp màu nước đâu đấy; còn tôi thì chợt thấy chán ghét mình da diết.

 

Bên cạnh thế giới tôi sống và tôi biết, là những thế giới tôi không biết và những thế giới tôi quên khuấy. Tôi xuống xe, gác chân chống. Chẳng thể nhịn hơn. Đám hoa xuyến chi bên đường trở thành nơi tòm tem công cộng bất đắc dĩ của tôi. Trong lúc tôi thả ga thì mấy cánh bướm trắng vẫn dập dờn chẳng biết sợ. Tôi để ý đến chúng từ nãy kể từ khi rẽ vào lối này, tôi cứ nghĩ chúng đã tuyệt chủng từ thời xửa xưa. Nhưng rốt cuộc chỉ là thế giới thành phố đã mất dần đi nhiều thứ mà thôi. Tôi ngồi bệt lên thành cầu, có con rạch nhỏ lắt léo dẫn nước bên dưới, ăn bánh quy tẩm đường tôi mang theo trong ba-lô và uống một ngụm nước nhỏ. Tôi chẳng biết nói gì về đám trẻ con hồ hởi đã đón chào mình ở đầu chỗ ngoặt rồi. Lũ nhóc tỳ tưởng tôi là người ngoại quốc gì đó, cứ xí xớn ra đập, bám tay, “hi.”, “hello, how you.” đủ kiểu. Có đứa con gái còn trịnh trọng “good morning vietnam” khiến tôi ngẩn ngơ mãi đến tận ráng chiều. Tôi lấy sổ, bút, kiếm một trang trắng, vẽ ra hình lá cờ. Tôi họa duy nhất một hình tròn trên lá cờ, rồi sột soạt tô gần kín nó bằng nước mực Iroshizuku thần thánh của mình. Tôi giơ ra trước mặt chúng, ‘điềm đạm’ nói, “the sun. Sun”, tôi chỉ; tôi còn trỏ ngược lại cả mặt trời đang treo như quả đèn nê-ông sáng chói trên kia: “sun”. “Japan. I’m. japan.”. Tôi vừa gắng nói, vừa nguệch ngoạc thêm dòng chữ y thế dưới lá cờ; sau rốt khi hoàn thành thì tươi cười giựt trang giấy ra khỏi phần gáy lò xo và đưa cho đứa lớn nhất ở đấy: “good morning vietnam”. Tôi chỉ tiếc mình đã không có bịch kẹo nào.. Tôi tư lự một mình dưới nắng chiều chói chang, chuyển hướng băn khoăn ngẫm nghĩ không biết khi nào làng quê Việt Nam sẽ không còn những lứa trẻ con da ngăm, loắt choắt, mắt láy như hột nhãn ấy nữa. Chúng sẽ ra sao và trở thành gì khi lớn lên. Những ngày sau này, chúng có như bố mẹ, anh chị chúng, tiếp tục ném đầy những túi ni-lông rác ra bờ nước này nữa không? Thế giới làng quê rồi sẽ chất đầy những bãi rác thải dân sinh. Tôi hớp nốt một ngụm nước to, vặn chặt lại nắp bình, gá vào gióng xe dưới..

Say what you need to say