Chuyện gì đã xảy ra

Hôm nay, tôi quyết định dừng viết Đ.T.H. Tôi nhận thấy rằng càng ngày tôi càng viết chậm đi. Từng trang giấy chỉ nhích lên chút một qua mỗi tuần. Tôi gặp vấn đề khi làm việc với các tư liệu. Tôi chán bản thân, với số kiến thức nền nhỏ nhoi, tôi khó lòng xây dựng được mọi thứ hoàn hảo. Nhưng khổ nỗi, tôi lại là một người tiểu tiết. Nên là khi muốn làm điều gì đó, tôi luôn muốn làm sao cho tốt nhất, từ cái to cho đến cái nhỏ, cho đến cả những thứ lặt vặt đi kèm. Điều đó khiến cho tôi phải tra cứu khá nhiều khi viết những tháng gần đây. Thế mới biết, càng dấn thân vào sâu, càng có nhiều thứ tôi cần phải trau dồi, tức là phải học, học thực sự ấy chứ không phải là học hỏi qua quýt, học để biết vậy, và nữa là cần phải trải nghiệm, phải thấy. Tôi chủ yếu lưu giữ những tra cứu, lượm lặt của mình trong một danh mục mà tất cả các mục đều ngang cấp với nhau. Và chúng nó bắt đầu trở nên dài thườn thượt, rối rắm, lạc loạn, khi lượng kiến thức tôi cần xem tới được bổ sung vào đống danh mục đó càng lúc càng trở nên nhiều không kể xiết. Trí nhớ của tôi đối với những thứ ngắn hạn vốn không được tốt. Sau khi chắp nối các mắt xích lại với nhau, tôi cho thế là xong và quên bẵng đi làm thế nào mà tôi lại có thể liên kết tất cả bọn chúng lại như thế. Đến chừng khi một mẩu xích nào đó bắt đầu lỏng lẻo. Tôi chỉ còn biết đần mặt ra tự hỏi, làm thế quái nào tôi biết đến cái thứ này và tại sao tôi lại chọn bày biện cái đống của khỉ đấy ở đây vậy. Thế nên, điều tất yếu xảy ra trong thời gian rồi là tôi cảm thấy khó khăn để có thể tiếp tục làm việc trên mớ hỗn độn giờ đây đã chình ình thành một vạt rừng bí ẩn mà tôi đã mất đi khả năng gọi tên bất kỳ loài thực vật nào bên trong nó.

——– Hắn ngồi đó, trũng thân hình trên khung hàng rào gỗ duy nhất sót lại, mà cùng với nó, có hàng trăm mớ dây kẽm gai uốn vòng, đan xen chằng chịt, hợp thành một vành đai cao gần mét rưỡi bao quanh lấy khu đất nông trại rộng tới ba ngàn mẫu và ngăn cách nó với vùng đất hoang rõ ràng là còn trù phú hơn về diện tích, ở bên ngoài. Phía sau lưng hắn, cánh đồng ngô vừa thu hoạch hết bắp, như mất hết sức sống, lả đi, chỉ chờ nắng làm cháy khô hết mấy đám lá xanh nữa thôi, là cả cánh đồng sẽ hoàn toàn khịu xuống, trở thành miếng mồi ngon béo bở cho một đám lửa đỏ và lớp đất óng mỡ.

Franky tự cuốn cho mình một điếu thuốc lá. Hắn cắn nghiến một đầu trong khi đang dở tay tìm diêm quẹt. Hơi rít đầu tiên làm hắn quặn phổi. Mồ hôi và khói thuốc bết lấy mớ tóc đã ngả vài mảng muối tiêu. Chiếc mũ cờ-rích-kê kiểu Úc-đại-lợi trên đầu hắn ỉu xìu, thấm nhẫy hơi mồ hôi. Nó trở nên nặng hơn, trườn xuống, càng lúc càng bám chặt lấy bộ óc mà hắn hằng cho là ưu việt so với hết thảy đám đông mà hắn biết. Điếu thuốc rơi tàn được một nửa, thì cũng là lúc não hắn trở nên chuếnh choáng bởi hàm lượng ni-cô-tin đã quá nhiều so với khả năng hấp thụ của buồng phổi hắn trong hai năm gần đây. Nó rỉn ra một thứ dầu đặc có mùi hắc ín xuyên qua lớp da đầu, phết lên phần lót của chiếc mũ đang đội một lớp đen xì nhớp nháp.

Hắn thôi nghĩ đến những mạch máu và lớp da thịt nơi hốc mắt. Khi vứt đi nửa điếu thuốc còn lại, tâm trí hắn mông lung điều gì đó trong chốc lát, rồi thì hắn bước tới chiếc xe mô-tô dựng bên gốc cây bao-báp. Vừa ngồi lên xe, hắn liền khởi động máy, tiếng ống bô nổ đèn đẹt, nhả khói từng cụm. Hắn lao xe đi, cua nửa vòng, rồi thẳng theo con đường hướng ra phía thác Pam mà chạy tới.

Thay vì đến đúng thác Pam, hắn lái xe đến bên mép vực cách đó cỡ ba trăm mét, nơi con sông A-rút-xi-ni vẫn cuồn cuộn chảy cách cả trăm mét bên dưới, dù cho nó đã không còn thuộc địa phận của cao nguyên Mô-cátx nữa. Mỗi khi ở chỗ này, không hiểu sao, trí óc hắn luôn gợi tìm lời giải đáp cho một thắc mắc chẳng ai quan tâm, rằng tại sao con sông không thuận theo thế đất để tạo dòng, nếu xét về khoảng cách thì cũng chỉ còn mười hai cây số nữa là nó cũng sẽ tới được bình nguyên Ha-ma-quiu-lớtx bên dưới, vậy mà, nó lại đột ngột đào xuyên qua cả chục lớp đất đá, xẻ nên một rãnh sâu kỷ lục lên đến tận một trăm mười mét bắt đầu ngay chỗ thác Pam, rồi đổ hết lượng nước qua lối đó, và dù đã giảm độ cao đi kha khá, sau khi bổ nhào xuống từ trên đỉnh, những khối nước khổng lồ đục ngầu xuất phát từ chân thác Pam vẫn tỏ ra là những tay phiêu lưu vội vàng hết cỡ, bằng chứng là chúng vẫn phăng phăng ào ạt trên con đường tiến tới những vùng đất thấp hơn bên dưới, gây nên một sự huyên náo ầm ĩ cho những ai đang phải đứng gần. Nguyên nhân của sự kiến tạo địa vực sông A-rútx vẫn còn là một điều bí ẩn với tất cả mọi người cho tới ngày nay. Không có nhà địa chất học nào, kể cả người ở trong vùng, nắm bắt hay tìm hiểu được chút ít, cũng chẳng có ghi chép xa xưa nào đề cập đến. Những người già nhất còn sống trong ngôi làng Môn-rô gần đó, hay ở thị trấn A-ráp cách vài dặm mà Franky biết và đã nói chuyện, chỉ là đám con cháu của mấy tay khai khẩn đất hoang, chân tay thì mạnh mẽ nhưng lại thiếu đi ý niệm về khoa học giáo dục; đời họ không hề biết chữ và cũng chẳng lấy đó làm phiền; họ cũng chẳng phiền khi những thế hệ kế cận tiếp tục giống họ, tuy họ biết nhiều thứ đổi mới đã và vẫn đang diễn ra liên tục không ngừng. Vì vậy mà ở trên khắp miền đất cao nguyên Mô-cátx đất đỏ phì nhiêu này, không tồn tại một sự uyên thâm trí giả nào mà hắn, Franky, có thể viện cầu đến cả. Bên đống lửa, vào những đêm ngập tràn sự lạnh giá do gió tuyết từ dãy An-đétx phả xuống, những câu chuyện ôn lại giữa những người già, những lời kể cho lũ trẻ, khi mỗi người đều đang cuộn mình trong một chiếc chăn ấm có thêu những bông hoa mặt trời rộ nở, hầu hết toàn là những bài học dạng ngụ ngôn, rồi vài kỷ niệm nông nổi được thêu dệt, hòa lẫn sau đó là những kinh nghiệm xương máu của cha, mẹ họ hoặc của chính họ thời trẻ, khi vật lộn với biết bao cánh đồng, biết bao vụ mùa canh tác, khi phải du nhập mấy dây chuyền nông phẩm sử dụng máy móc hay khi so kè lợi tức với những tay thương lái xương xẩu miền xuôi.

Thật là những biểu hiện của cuộc sống tầm thường, Franky đã luôn nghĩ thế chỉ sau một thời gian ngắn đặt chân lên cao nguyên Mô-cátx và quen dần với cuộc sống mới tại nơi này. Hắn vốn chẳng ưa gì ai; ngay khi đã hiểu thấu được mọi người ở đây, cẩn thận xếp đặt từng người một vào các nhóm trên thang phân loại đẳng cấp của riêng hắn, hắn trở nên sẵn sàng thóa mạ tất cả bọn họ, vào bất kể giây phút nào hắn phải bỏ công ra để thiết lập một mối tiếp xúc ngôn ngữ thành tiếng với họ, lúc gặp nhau trên đường, lúc làm việc chung ở cánh đồng ngô, lúc sinh sống tại khu nhà tập thể dành cho công nhân nông trại của Đôn Giôn, dù cho đó có là phụ nữ, trẻ em, hay những lão già, tệ hơn nữa là những tên mọi đen và nhất là cặp vợ chồng Đô-rít. Nhưng hắn chưa bao giờ làm thế, chưa bao giờ sổ toẹt mọi ý nghĩ trong đầu hắn ra trước mặt bất kỳ ai trong làng. Hắn đến đây là để tìm cách nén chặt lại những cảm xúc có thể nói là xấc láo, hoàn toàn đối chọi với bản chất của một quý ngài như hắn. Hắn đến đây để xóa bỏ đi quá khứ xấu xa của mình. Dù từng nghi ngờ bản thân, thì cho đến giờ phút này hắn chưa bỏ cuộc. Hắn là người duy nhất nắm được cái mục đích rõ ràng cho tương lai của hắn. Thỉnh thoảng, trái tim hắn bỗng nổi cơn thèm khát. Thế là hắn phóng ra đây, dựng xe cách đúng một khoảng tám mét, rồi đi ra sát bờ vực hòng nghe rõ tiếng gầm gào vang vọng của con sông khi lao qua một cái ghềnh đá ngay bên dưới. Hôm nay, hắn chẳng trông xuống những dòng nước xối xả như thường lệ, thay vì thế, hắn nhìn quả bóng mặt trời đang bắt đầu chui vào giữa những mỏm núi sắc nhọn đằng xa và cam chịu cho chúng đâm thủng. Hắn có nên nhảy xuống, hắn tự hỏi mình vậy. Hắn từ tốn độc thoại với bản thân thêm vài ba câu nữa. Hắn liếm môi, cái dư vị ngọt ngào thẳm sâu trong tiềm thức của hắn chầm chậm kéo tới. Hắn lấy thuốc lá và giấy cuốn trong bọc ni-lông nhỏ lấy từ túi áo để cuốn một điếu thuốc mới. Khó khăn lắm hắn mới quẹt được lửa châm cho điếu thuốc giữa những cơn gió lộng vào lúc chiều tàn. Hắn tự nhủ với bản thân nhất định sẽ làm được: “.. phải quên được nó đi.”. Hắn hít một hơi dài, nhắm mắt và khởi sự công cuộc trốn chạy. “Con sông”, hắn mở mắt, “tại sao chẳng một ai quan tâm đến sự giận dữ của mày cả, ngoại trừ tao?”.

CẢM HỨNG VÔ CỰC DỌC (H.I.)

Sáng. Dậy. Có một khoảng im ắng. Rồi tâm trí chan chứa suy nghĩ. Toàn ý tứ không đâu, chúng chảy vội vào một cái hồ. Cái hồ rộng ra. Đoàn lữ khách càng lúc càng nhỏ tý lại. Dần thì bé tin hít đến nỗi trôi tụt qua đầu xỏ chỉ của một cây kim khâu cỡ số chín.

Những ngày mới vẫn cứ nối tiếp nhau xuất hiện, giống như con mắt cứ chớp nhắm chớp mở liên hoàn. Thời gian là thế, chưa bao giờ biết mệt mỏi, đều đặn chạy những vòng quay, răm rắp miệt mài suốt năm này tháng khác. Bên cửa sổ; ngoài kia, cả khối nắng ban mai vừa kịp tỉnh giấc, bắt đầu tưới ánh vàng kim dài lê thê lên từng cái nóc nhà một. Chảo trăng sáng lóe đêm qua, đâu, đã biến mất hẳn, chẳng còn lại lấy bất cứ dấu vết nào. Những con cú đã thôi ‘cờ-rúc, cờ-rúc’ từ khỉ khi không biết, hoàn toàn kỹ càng lẩn tịt mặt trong các lỗ đen vũ trụ được giấu kín sau bức màn mây và làn da trời căng phồng cơn giông tố rồi chắc sẽ sớm đến trong tuần; chỉ có mỗi đám cành lá mảnh mai đâm xiên vào khung cửa sổ là bỗng dưng rạng rỡ cõi lòng, khấp khởi xanh rì rung rinh đón gió sớm.

Những cơn gió thôi thì cũng chỉ tạt qua mấy chốc, sau, chúng đi khuất, tất cả lại trở về với yên lặng.

Tôi nhớ những con phố. Tôi nhớ những khuôn mặt. Tôi nhớ những dãy nhà mái bằng đầy dây phơi, đầy kẹp áo, nhớ những chậu cây tua tủa cỏ mai; nhớ những mốc meo và rêu đen cháy khét lét bám kín lấy dãy gạch trơ vữa được sắp sẵn thành bờ tường của một căn nhà cấp bốn nhỏ nhắn, hoang chát vị xưa. Bóng nắng bỗng lên quá đỗi, và tôi không thể ngờ rằng cái sự đói nó có thể réo rắt tâm hồn con người lạ lùng là thế. Tôi đâu biết những đứa trẻ lang thang chúng sẽ thế nào; khi không có gì để bỏ bụng, chúng ứa ra hàng dài nước miếng ngay từ ngoài này, ngay lúc trông vô cửa tiệm người ta đang bán những đụn xôi nóng hổi, thơm ngào ngạt mùi mỡ lợn xối chảy dài như mật, và mùi vò đỗ xanh xay mịn, nắm chim, thái lát mỏng y chang mấy tờ vé số. Nhưng, thì, chúng chỉ im thít đó đứng coi thôi; một lúc; chúng nuốt tất cả mọi thèm muốn đầy đặn khổ sở vào trong cái bình chứa ọt ẹt chúng ôm chặt dưới lớp áo phông bẩn, phần nhiều rìa áo đã bị bung chỉ hoặc tơ sợi. Một lúc. Chúng như lay lắt với những chiếc rổ nhựa xếp đầy đủ mọi chủng loại sing-gum thơm miệng, mấy bao thuốc lá và những chiếc bật lửa bên góc đường; một lúc, có đứa lại thẩn thơ chơi đùa với bầy chim sâu chốc chốc lại sà từ hàng cây nào đó xuống dưới đất mổ những mẩu vụn rơi lại từ những chiếc bánh mì chẳng hề có tý thịt nào mà tất cả lũ chúng nó đang ăn. Bọn trẻ đẹp trai, da không rám nắng, chỉ bị đen vì mồ hôi, vì bụi đất và vì cái sự nước non tắm táp. Nhưng thật sự thì trông chúng tội nghiệp, khi chúng khiến cho người ta cứ phải luôn nghĩ rằng góc đường nhỏ bé ấy sẽ là ngôi nhà đời đời vận kiếp của chúng. Tôi đưa cho chúng nửa chai nước La Vie, thứ duy nhất chúng thôi từ chối, để chúng uống trôi đống bột mì; một lúc. Khi tôi rời đi thì đám trẻ cũng đã bắt đầu chuyển sang trò chơi với bộ bài giắt từ đít quần một đứa. Tôi nhìn bọn chúng nó đứa nào đứa nấy nấc cụt, bỗng chốc sướng rên trọ trẹ hoài những từ ngữ lấp lánh niềm vui chẳng tài nào tôi hiểu nổi; một lúc; lần cuối. Tôi nhớ trời xanh. Tôi nhớ biển. Tôi bỏ quên đi những cặp mắt trẻ thơ,  bỏ quên đi những nụ cười con nít.

Tôi nhớ Clo-jie tha thiết và bồn chồn, xen lẫn thói đểu giả thường thấy, khi con người ta tự nhiên nhắc nhiều về nỗi nhớ. Tôi chạy đua với Mặt Trời tới tận bờ bên kia của tinh cầu Mặt Đất. Chú Trời ta thắng; với vẻ tươi rói, chú cười đắc chí nhảy ùm xuống biển vũ trụ xả hơi hồi sức, không lãng phí lấy bất cứ một giây phút nào bùi ngùi cho tôi cả; chú ta thực tình thỏa mãn. Tôi thua và cảm giác cay đắng; nó thật tồi tệ; nỗi thất vọng lộ rõ như kiểu ra sức bóp lấy bóp để cánh hoa cúc bằng ngón cái của bàn tay phải và ngón trỏ của bàn tay trái cho kỳ được mà lại chẳng được; là rất tồi tệ, thế, tôi đi nhảy; cũng đi nhảy, nhưng là nhảy xuống vực sâu. Tôi rơi thân xác xuống một thung lũng đầy những hạt vàng và chính nhờ có chúng mà tôi chẳng chết. Bọn hạt vàng lửng lơ, lơ lửng, lưng chừng vuốt ve bắp chân tôi mỗi bước tôi đi, và cả cổ tay tôi khi tôi cố mấy lần cúi xuống thử tóm lấy một đám, nhưng vì chúng biết cách luồn trốn qua khe kẽ ngón tay rất nhanh, nên thành thử tôi toàn tóm hụt. Chúng, chao ôi thì, có mùi căn bếp cũ của bà ngoại tôi nơi xóm Dầu, rất đậm; tôi không hiểu sao; là mùi của chiếc kiềng ba chân khi bị đám củi khô ngắc sùi bọt lửa hun cháy. Tôi thường đứng đó coi bà ngoại tôi nấu ăn cho bữa trưa, chỉ khi nào tôi sớm thua sạch đống bi ve của mình vào ban sáng và trên nhà chẳng có ai chơi, thì tôi lại chạy xuống bếp coi bà tất bật nấu nướng và để hửi mùi cả đống thức ăn thơm phức mùi hành; đủ loại. Tôi đứng bên chiếc rương gạo đặt trên nóc một cái bể vôi ở góc bếp mà ngóng nhìn các thanh củi từ to đến nhỏ biến mất hút vào trong lòng chiếc kiềng sắt, chỉ còn lại bụi tàn lép bép bay ra, và cảm xúc tựa hồ vô cùng thích thú. Rồi cả những mũi lửa ấm nóng và đôi chút điên rồ nữa chứ, chúng cào cấu những cái đáy nồi đen đặc, thỉnh thoảng bùng lên, đâm xiên lên thành nồi, khiến bồ hóng chảy ngược từ đít nồi lên tận nắp. Cứ thế, chúng biến ra một thứ sống động nhiệt thành, một ngọn nguồn mà từ đó lan tỏa biết bao mùi hương; mùi củi mục, mùi mùn cưa, mùi gỗ bào, mùi của những miếng thịt dày bì sôi trong mỡ, mùi của chiếc nồi gang, mùi của bàn tay bà, mùi đũa cả, mùi tường vỡ và mùi chiếc kiềng sắt; những thứ mùi nồng nàn của căn bếp cứ thế quện đi quện lại với nhau thành một vết dài trong dòng ký ức.

Bọn hạt vàng, chúng, kìa, cũng đang nhảy nhót như những ngọn lửa đỏ trong căn bếp cũ nay đã không còn. Hỡi ôi, chúng dường như bị phấn khích bởi hình dạng hai cái đầu gối của tôi hay sao ấy mà liên tục nhảy lên hòng va, chạm, húc, tông, rờ, bắt được vào hai đứa nó. Chúng nhảy lên từ lưng chừng không khí, mà không cần lấy một điểm tựa; như thể có một chiếc đệm hơi trong suốt hoặc vô hình cứ sóng sánh dập dềnh đưa đẩy chúng bắn lên từ bên dưới bằng thứ lực đàn hồi vô cùng dễ chịu; thật buồn cười. Sự phấn khích đó như một thứ tín hiệu mời gọi nhanh chóng lan tỏa ra khắp xung quanh. Bọn hạt vàng ở phía xa bắt đầu nô nức kéo tới. Chúng nhảy, tạo thành những cơn sóng nhẹ. Mỗi đợt, mỗi đám hạt vàng như thế tạo nên một lớp sóng, lớp này đuổi theo sau, chồm lên lớp khác; bọn hạt vàng này thuận theo đà nhảy lên trên bọn hạt vàng khác; những con sóng bé tý ban đầu gợi lăn tăn như mặt nước những đêm trăng tỏ dần biến thành những con sóng vừa vừa, rồi chúng trở nên lớn hơn nhiều khi đến được gần chỗ tôi đứng. Tôi, lúc ấy thì, như một hòn đảo hoang trơ trọi giữa biển trời mà tám phương bốn hướng đều có những đợt sóng là bọn hạt vàng ào ào xô tới. Bọn hạt đến sau lũ lượt chen lên bọn đến trước, đẩy hằng hà sa số bọn đến trước nữa xuống phía dưới, càng lúc càng sát hơn với mặt đất. Chính lúc ấy, tôi bắt đầu nghe thấy những tiếng lụp bụp nhỏ, kèm theo sau đó là những sợi ánh sáng leo lắt chui lên từ phía dưới lòng đất, xuyên qua những lớp hạt vàng bên trên và chui tọt vào vũ trụ. Rồi những tiếng lụp bụp trở nên rõ ràng hơn, chúng không chỉ đến từ dưới mặt đất mà còn xuất hiện ở trên không, ngay giữa những con sóng; không phải, chính xác là ở giữa những chỗ mà hai con sóng hạt vàng đến từ hai ngả va mạnh sườn vào nhau. Tiếng bụp nhỏ, tiếng bụp to, nổ rền như tiếng bắp rang bơ đang chiên trong lò vi-ba. Tôi thấy lần lượt bọn chúng: một hạt, hai hạt, …,  rồi nhiều hạt nữa, cả ở gần, cả ở xa, ở tít xa, bỗng nhiên khựng lại giữa dòng chuyển động của các con sóng, ngay giữa không trung, liền đó thì tự biến đổi. Bọn hạt vàng ấy, chúng rung nhẹ, trương mọng lên từng khắc một rồi phát sáng y như bụng của con đom đóm; rồi khi bọn nó to đến cỡ hạt sen và rung lắc dữ dội nhất thì nhất loạt nở bung ra, những sợi sáng giấu kín bên trong văng đi kéo thành những vệt sáng lóa, gấp khúc trắc trở như sọc chớp nhá hình trên nền trời đen kịt lúc đêm giông. Một, hai giây sau,  bọn sợi sáng ấy thay phiên, nối tiếp nhau tót phát nhảy ngược lên phía tầng không, từng mét, từng ki-lô-mét, rồi hàng trăm ki-lô-mét, thậm chí hơn nữa, hàng trăm nghìn ki-lô-mét. Mục tiêu của chúng, phía cao trên kia, thôi, đã quá rõ. Chúng thực tình muốn vươn tới những ngôi sao xa xăm cách Mặt Đất đến cả triệu năm ánh sáng trong biển vũ trụ tăm tối kia ư. Tôi bàng hoàng bởi cảnh tượng kì ảo đó, bàng hoàng bởi những ước vọng của bọn hạt vàng sau khi, có thể là thế chăng, chết đi ấy. Bọn hạt vàng, chúng chẳng ngần ngại chạy đến, đuổi theo niềm đam mê nhất thời, dù cho có phải, ừ, tôi sẽ gọi nó là, hy sinh. Và dù cho có phải hy sinh, chúng cũng không hẳn thất bại. Chúng chỉ là không ngừng di chuyển. Chúng luôn có một cái gì đấy để theo đuổi, lúc này hay lúc khác. Chúng cũng đi nhảy, thế, nhưng sẽ nhảy đến nơi trái tim cùng tình yêu của chúng tồn tại.

Hân bỏ chiếc túi xách lên bàn ở một vị trí hơi xa với chỗ ngồi, và nhờ Rem pha cho em một cốc sô-đa lạnh; em nhìn quanh, rồi quay lại đáp lấy ánh mắt gợi chuyện của Rem với một nụ cười chết khát. Không khí hội quán hôm nay khá trầm tư và, chút gì đó u uất; theo lịch thì là đến buổi của S., nhưng cậu ta từ hôm trước đã phủ quyết quyền chủ trì mọi hoạt động, vậy nên mọi người quay qua làm những việc thường ngày còn dang dở; ai cũng chú tâm hết sức với tác phẩm của mình nên chẳng nói lời nào với nhau suốt hai tiếng rồi. Những khối suy nghĩ chất chứa sáng tạo đam mê cũng vì thế mà được sản sinh ra không ngừng, bao trùm lên khắp các góc tường và cả sảnh ‘sân khấu’. Riêng tôi thì lại thu lu ở cái chỗ một bên là chậu hoa mười giờ, hiện tại chỉ toàn cỏ lác sinh sôi, còn bên kia tất nhiên sẽ có một chiếc bàn nhỏ, để đọc báo. Chẳng phải là tôi muốn dò xem mấy bài viết đã gửi lâu lắc của tôi có được đăng không, mà chỉ thuần túy coi tin tức. Tôi đọc qua hết tất cả những trang báo cũ, cách đây mấy tuần, rồi thậm chí là hằng tháng trước, nhưng không có lấy một mẩu tin nào tôi muốn thấy. Cả một năm qua thú thực tôi ít xem báo hay các kênh truyền hình, nhưng chí ít cái tin tôi muốn thấy, nếu mà có, chắc chắn nó phải là một tin giật gân sẽ khiến mọi người bàn tán không ngơi; hiển nhiên, tôi cũng sẽ không bỏ sót thông tin nào như thế. Vậy mà… Tôi đang mải nghĩ vài thứ liên quan đến Franky, thì Hân tới đặt cuốn Vietnamese Costumes through the Ages xuống mặt bàn. Tôi nhìn lên thì chỉ kịp thấy em nhún vai một cái rồi bước trở lại chỗ quầy bar. Định nói với theo câu cảm ơn em đã cho mượn mà lại thôi, tôi cầm quyển sách lên, giở lấy vài trang, ngắm nghía những bộ trang phục từ xa xưa tới thời cận đại của người dân mọi miền trên đất nước mình. Hình ảnh của chúng trong sách đa phần sắc nét, kèm mô tả chi tiết chất liệu, đường may, đôi khi có bổ sung ý nghĩa hoặc diễn giải một vài dữ kiện văn hóa lịch sử gắn theo làm tôi phút chốc trở nên hứng khởi mà quên mất đi những ám ảnh giết chóc tồn tại trong đầu lúc nãy. S. hình như đang để ý tôi, nhưng khi tôi quay sang thì cậu ta lại cắm cúi viết. Có một cuộc gọi đến hội quán, chiếc Oa-phen 48 đời cổ lỗ sĩ của Đức đặt ở góc trái trên mặt quầy bar kêu leng reng náo động mấy hồi liền không dứt; thường thì nhóm chúng tôi chẳng bao giờ ngóng chờ bất cứ cuộc gọi nào đến đây cả: chiếc Oa-phen ấy chuyên dùng để gọi đi, chuông chỉ đổ vào những lần Rem hoặc M. gọi thử để kiểm tra một cách máy móc rằng chiếc điện thoại hẳn vẫn hoạt động ngon lành; và theo truyền thuyết tôi được nghe kể, lần đổ chuông có nghĩa duy nhất mà nó thực hiện thành công đã xảy ra cũng lâu lắm rồi; đó là khi tay cung cấp rượu đời đầu tiên cho quầy bar gọi đến để giới thiệu một loại rượu mới từ Phần Lan mà gã đó vừa kiếm được nguồn cung và bắt đầu đứng ra phân phối. Có thể đây sẽ là lần có ý nghĩa thứ hai chăng; anh chủ xị của hội quán tên M. phải đợi đến hồi chuông thứ sáu mới chạy ra bốc máy chào hỏi, trong khi vẫn đeo nguyên đôi găng tay nặn tượng, nhưng rồi đầu dây bên kia chẳng lên tiếng. Được một lúc thì M. cúp máy và lầm rầm ra vẻ bực mình trên suốt quãng đường quay lại đằng ‘đảo dừa’. Chẵn mười phút sau, chiếc Oa-phen lại leng reng âm sắc của tiếng chuông điện đã han gỉ bởi không khí ẩm thấp từ đợt xuân thì đầu năm. Tiếng chuông đôi phần bất chợt khiến ngay cả Hân cũng phải nhíu mày. Lần này chuông reo đến lần thứ hai thì Rem đã bắt nghe luôn, giả tiếng “A-lô” tò mò và bình thản. “Ha-lô…”. “Alors?”. “Moshi-moshi!”. “Chịu”, Rem hắng giọng hồi đáp cho Hân, tôi, và S. biết sự tình; tôi cũng nghĩ là sẽ lại vậy thôi; Rem bỏ ống thoại đặt cái cạch về vị trí cũ, kèm một tiếng ‘tinh’ rất nhỏ ngân theo. Từ lúc đấy, tôi cứ nghĩ tiếng chuông sẽ tịt hẳn, thì cho gần đến giữa trưa, đợi ngay lúc P. rời khỏi ‘xưởng bạc’, chiếc Oa-phen-sờ-prếc-sơ đời mã 48 của cụ cố Hít-le tiếp tục réo vang lần thứ ba. P. vừa khép xong cánh cửa, bất chợt hoảng hồn vì thấy mọi ánh mắt đều đang đổ dồn như tưới keo dán vào mình:

“Sao cơ?”.

P. cúi xuống chỉnh lại nếp chân váy bị cuộn lên tý chút.

“…!?. À,”, sau thoáng chốc vẫn băn khoăn, P. như sực hiểu ra điều gì, bước đến góc quầy bar đưa tay chuẩn bị nhấc ống nghe lên. “…, này, các vị thật quá đáng đấy nhé. Tay vẫn còn run này.”.

“A lô, Hội quán Rívièr xin nghe.”

“Vâng”. “Franky sao?”. “Được rồi. Chờ chút nhé anh.”.

“Đây. Có một nàng Franky nào đó đang chờ. Mà cô ấy lại chẳng biết tên người muốn gặp là ai, lạ thật, có anh nào muốn tâm tình với Franky không em làm mối cho nè.”, P. cười bông lơn với cả nhóm, xong quay qua Hân nháy mắt ra vẻ ám hiệu, rồi đưa ống nghe hướng ra phía đó, như thể cuộc gọi là cho Hân vậy.

“Không. Là của anh.”, tôi đành lên tiếng trước khi Hân miễn cưỡng bỏ cốc sô-đa xuống. Nó gọi đến đây ư. “Là Franky hả?”.

“… Thật đó?”, P. ra chừng ngạc nhiên, tuy có hơi xuôi xị và giả vờ tỏ nghi ngờ nhưng vẫn đưa ống nghe cho tôi. Có lẽ đúng là thằng Franky đã bảo nó không biết tên người muốn gặp. Thế cũng phải. Mà sao vẫn xưng cái tên cúng cơm Franky với người khác, chắc chắn còn thể hiện bằng chất giọng bỡn cợt như dầu lanh, hoặc cay buốt và sâu hoắm giống một cái hang băng ở Kỷ Đệ Tam đặc trưng nữa, nó không hề mà cũng chưa bao giờ ‘phải’ lo đến việc rồi người ta sẽ nhận ra mình thì phải. Nghĩ đến đấy, tôi tự dằn lòng đừng có mà cảm thấy sợ hãi thêm chút nào nữa trước khi nói hay nghe thấy bất kỳ điều gì trong chục giây kế tiếp.