Everything was sad in the end

…The writing for the April

Hôm nay, khi tôi ngồi ở quán nước phía đầu một cái làng nhỏ, giữa một cái ngã ba, nhìn bóng mặt trời lặn, gió thổi những triền cát, cả một ngọn núi dài chạy ngang trước mặt, trên đó có đoạn đường tôi đã băng qua khi trời đầy nắng mấy hôm trước, tôi bỗng muốn thay đổi mình. Tôi muốn một lần nữa quay trở lại cái xã hội loài người kia; và sống trong nó. Vào cái lúc ấy, tôi chiêm nghiệm được một điều rằng, nếu tôi chỉ đến quán nước vào buổi sáng, tôi sẽ chẳng thể nào biết được vẻ đẹp của nó vào buổi chiều lại tuyệt vời như thế này. Nếu tôi chỉ đến vào các ngày thứ Ba, tôi sẽ không biết được vẻ đẹp của nó vào các ngày thứ Năm. Và nếu tôi chỉ đến vào ngày thứ Tư tuần này, tôi sẽ không biết vẻ đẹp của nó vào ngày thứ Tư tuần trước sẽ ra sao. Cứ như thế, nếu vẫn đứng ở đây và chối bỏ những lời mời gọi, tôi sẽ tiếp tục bở lỡ những khoảnh khắc đẹp đẽ ẩn mình trong những phút giây nào đó của cái thế giới mê muội kia. Có thể là thế chăng? L chắc sẽ thích thú với điều này lắm. Những kỳ vọng của em về sự thay đổi của tôi cuối cùng cũng có chút kết quả. Dù đã là những ngày xa lắm rồi, từ khi L bắt đầu cố gắng kéo tôi trở lại gần hơn tới cái cuộc sống tôi vốn luôn muốn từ bỏ.

Nó có buồn không khi tất cả mọi thứ đều kết thúc trong nỗi buồn. Thực tế thì đến cuối cùng, cảm xúc không có ảnh hưởng gì nhiều, con người – về cơ bản – luôn có phương cách để vượt qua nỗi đau mà mình phải hứng chịu. Nếu là dễ dàng, nó rất tốt thôi. Còn đối với những điều đau đớn quá sức, chúng ta luôn có thể ngắt phựt cái cầu dao của sự sống. Bụp, trái tim ngừng đập, hồn lìa khỏi xác, thảnh thơi trôi tuốt lên tận trời cao, có khi còn bay được ra cả ngoài không gian vũ trụ bao la nữa. Nhưng, khi tất cả mọi thứ đều kết thúc trong nỗi buồn ấy, ắt hẳn nó sẽ gây ra trong cuộc đời mỗi người một điểm ám ảnh kì dị, mà từ đó, mỗi bước chân ta đáp xuống mặt đất là một cú nhảy trực diện xuống vực sâu nghìn dặm.

Những ngày tháng Tư ở Đầm Môn chỉ có nắng và cát, và hoàng hôn đổ dài trên những hòn đảo ở vịnh Vân Phong. Không có loa kèn hay những cơn mưa ẩn chứa mùi ẩm ướt cũ kỹ của những con phố Hà Nội. Cuộc sống tĩnh mịch và đều đều truyền từ ngày này sang ngày khác, chẳng có nhiều cơ hội để đổi thay. Làng Đầm Môn bé và có hai cái chợ. Chợ chính ở đầu làng chỉ họp vào buổi sáng. Và một chợ cóc, mở suốt từ sáng, lay lắt cho đến trưa, rồi mới đông lên tý trở lại khi chiều về, nằm sâu bên trong làng. Những ngôi nhà của người dân nơi đây, phần nhiều là nhà cấp bốn, chạy men theo mép nước phía ngoài và đồi cát phía trong, uốn lượn mấy hồi, rồi dừng lại tại nơi mà người ta coi việc khai thác cát trở thành một di sản thiêng liêng cần được bảo tồn. Cái công ty khai thác và cái đồi mãi-mãi-không-hết-cát nằm chính ở đó, to uỳnh. Hai cái sự vật ấy cấu kết chặt chẽ, trở thành một thế lực hùng mạnh ngăn trở bất kỳ ông hoàng, bà chúa nào muốn tìm bãi đất bằng phẳng để mà cất lấy một cơ ngơi nhiều đời con cháu cư ngụ; và, như một sự tử tế không có hồi kết, khi đứng trên đồi cát, người ta có thể nhận ngay ra rằng giáp liền với nó, ngay phía bên kia, còn là cái mũi đất cao thành một ngọn núi nhỏ không dễ gì phá dỡ, được tô điểm bởi hàng lô những viên đá tảng trắng phớ, thoắt ẩn, thoắt hiện sau đám cây rừng rậm rạp chìa thẳng ra bờ vịnh. Đi từ đầu làng đến cuối làng, có thể nhìn thấy chỗ nào cũng có bóng dáng của những con thuyền đánh cá. Chúng đậu kín mặt nước khi trời còn hửng sáng và thưa dần khi ánh mặt trời bắt đầu chiếu ngược lại từ phía Tây. Không có những con thuyền quá to; dân chài ở đây chủ yếu đánh bắt gần bờ, ít khi nào họ chu du ngoài biển với lượng thời gian được đếm đến ngày. Họ thường đi chăng lưới suốt đêm và kéo những mẻ cá về vào buổi sáng. Sau đó, họ ngủ đẫy giấc cho đến chiều mới dậy; dậy xong, liền cái là họ lại tất bật chuẩn bị ra khơi, tiếp tục công việc khai thác biển cả cho đến hôm sau. Đều đặn thành một chu kỳ, thành một thói quen. Ngày này nối qua ngày khác. Chỉ trừ những dịp trăng tròn thì gần như báo trước những ngày nghỉ dài; vì biển sẽ không có cá nên khi đó sẽ không có ai buồn ra khơi; những con cá bán ở chợ những ngày rằm, vì thế, sẽ bớt tươi hơn, do chúng nằm trong những lượt cá đánh lên từ hôm trước đang để đông lạnh trên những con thuyền sực lên mùi tanh nồng khó tả khi phải phơi mình trong cái nắng gắt cực độ của miền biển Nam Trung Bộ suốt nhiều giờ liền.

Hôm nay tôi dở chứng muốn xốc cái cơ thể uể oải này lên và vác giày ra chạy chiều. Chìa khóa phòng biến đâu mất khiến tôi phải tìm một lúc; 5 giờ kém, tôi bắt đầu những bước chạy đầu tiên ra khỏi nhà nghỉ, vòng lại con đường dẫn ra bãi biển Sơn Đừng để hướng tới ngôi chùa ở gần cuối đường, nơi tôi vẫn ưa thích ra đó để ngắm cảnh mặt trời lặn sau các hòn đảo. Nắng vẫn còn chiếu xiên hất bóng tôi đổ ngang thành một đoạn dài; ở đây chẳng có gì ngăn chúng lại cả, trừ những chóp núi phía xa và thỉnh thoảng thì có những rặng cát cao nhô lên khỏi triền đất phía bên phải đường nữa. Mồ hôi chảy, tiếng nhạc trong tai, tôi hứng chí hát theo mỗi khi lời ca trở nên da diết, để rồi sau đó phải thở lại, ý là sẽ phải lấy lại hơi thở đều để cho nhịp tim của mình không bị xáo trộn quá. Đôi chân của tôi bắt đầu cảm thấy áp lực từ cả cơ thể đè xuống trên mỗi bước nhún và nhảy. Trong khi cơ đùi phình ra để hợp thức hóa những cử động nặng nề của cái sự chạy, thì những chấn động áp đặt lên cổ chân đang được lan tỏa xuống bàn chân và phân tán ra toàn bộ phần đế giày lẫn mặt đường nhựa phía dưới. Tôi đã nghĩ mình sẽ ngưng chạy để cuốc bộ một lúc, nhưng vì lòng kiêu hãnh mà cho rằng trước đây, ít nhất tôi đã hoàn thành được giáo trình 5K, mới có một tẹo thế này đã là gì, vậy nên tôi cố tiếp tục. Tôi uống một ngụm nước lớn khi những cơn gió ngừng thổi. Nó giải nhiệt khá là tốt lúc cơ thể đang nóng lên từng chút. Con đường tiến sát gần với biển hơn và từ đó tôi bắt đầu nhìn thấy những khu nuôi tôm và cá ở sát bờ, cùng với những bè nuôi thả ở giữa mặt nước. Tận dụng lợi thế trời yên bể lặng khi nằm ở trong vịnh, thì ngoài việc đánh cá ngoài khơi, dân ở Đầm Môn còn thả bè nổi giữa vịnh để nuôi con này con kia, nào thì cá mú, nào thì tôm tiếc các thể loại; còn nuôi cả ngọc trai ở gần Hòn Ông nữa. Có đến hàng chục nhà bè như vậy được dựng lên ở riêng cái vùng nhỏ như hột mít này, chứ chưa nói đến số lượng ở khắp mọi nơi trong vịnh, chắc phải lên cỡ nghìn cái. Mải tính tới đấy thì tôi cũng chạy được đến lối rẽ tới ngôi chùa nhỏ. Nó là một ngôi chùa đã được xây mới, và vẫn đang được cố công hoàn thiện thêm chỗ này, chỗ kia. Có một bãi cỏ khá đẹp, nằm phía trước mặt chính diện của ngôi chùa, và mặt đó lại gần như là hướng chính Tây, nên khi hoàng hôn buông xuống, khuôn viên ngôi chùa bỗng chốc chìm trong sắc nắng hài hòa tuyệt mỹ bởi những vàng, những cam, những đỏ, những tím, những hồng, những xanh đan xen, chuyển biến lẫn nhau. Tôi men theo một lối nhỏ dẫn xuống chỗ gềnh đá sát mặt biển. Ở đó có mấy đứa tuổi vào tầm thiếu niên đang chuẩn bị tắm. Chúng cởi bỏ áo và dép lên tảng đá rồi cứ thế nhảy tùm xuống mặt nước. Bơi được đôi phút, mấy đứa nó lại lội lên tảng đá ngồi “ôm nhau cho ấm”. Trời chiều đã bắt đầu trở lạnh. Gió cũng nhiều hơn. Tôi và bọn nó – có ba đứa – chào hỏi nhau vài câu; tôi để ý thấy có một chú tiểu, chắc ở trong chùa. Rồi bọn nó tiếp diễn trò “tắm biển trong hai phút rồi lại lên bờ” thêm mấy lần; trong khi tôi chỉ đơn giản là tìm một tảng đá thích hợp, đặt mông lên đó và đưa ánh mắt đuổi theo những con sóng nối nhau từng chập, lớp này đẩy xô lớp kia chạy hối về đằng xa. Với tôi, lúc ấy, thời gian chỉ còn là một con số ít ỏi không cần đếm tới; và cuộc đời nhờ thế tạm thời yên ắng, khiến cho cõi lòng mênh mang kia chẳng biết nên nghĩ suy về một điều gì nữa.

6 giờ 20 phút chiều. Những tia nắng cuối cùng đã tắt hẳn. Chỉ còn ánh sáng phản chiếu trên những đám mây tỏa xuống, nhờ thế mà cảnh vật không đến nỗi tối tăm lắm. Tôi rời khỏi ngôi chùa nhỏ, quay lại con đường lúc trước bằng cách thả bộ. Rồi như có điều gì thôi thúc. Tôi bắt đầu những bước chạy. Ngược hướng gió để về làng. Tôi không biết đó có phải điều kỳ diệu không. Bầu trời, sau lúc ấy, dần quang đãng, trong trẻo nhờ những những cuộn mây bị đám gió to cuốn đi xa mất, còn trăng thì khuyết đến vô cùng, in dấu thành một cái liềm sắc sảo, mỏng tang trên cao. Bóng tối, khi đó đã rõ ràng hơn, trở nên lấp lánh, bởi màn đêm bỗng trưng cả một đại ngàn những vì sao giữa tầng không đầy mê hoặc. Bị bao phủ trong cảnh tượng đấy, thật khó diễn tả được hết mọi cảm nhận mà tôi có. Một thứ cảm xúc khoan khoái tràn vào, chạy suốt hết các thớ cơ. Da thịt tê rần. Và con tim chỉ trực nhảy nhót theo lời ca vẳng bên tai. Tất cả mọi thứ tựu chung đều kết thúc trong nỗi buồn. Vậy thì có gì phải ngần ngại, vậy thì có gì phải tiếc nuối. Những thứ đã qua, những điều sắp tới. Nếu nhìn kỹ vào những gì đã lựa chọn trong suốt hành trình của mình, tôi chẳng có gì để phàn nàn về từng lối rẽ tôi đã vẽ ngoằn ngoèo lên tấm bản đồ của cuộc đời. Cuộc đời này là một dòng chảy, nó chẳng phải là một cuộc đua xem ai tiến ra được biển lớn trước, cũng chẳng phải là một sự so kè xem ai có thác lớn, có vực sâu; nó đơn giản chỉ là việc tôi cứ tiến lên không ngừng và lan tỏa vào những chỗ tôi thấy thích hợp. Thỉnh thoảng tôi có va vấp và buồn đời một tý, nhưng dù sao thì dòng nước luôn chảy về chỗ trũng. Cho đến cuối cùng, sau khi các sự kiện đã hoàn thành cái sứ mệnh tất yếu của chúng, tôi sẽ lại tìm được nơi trũng sâu trong lòng mình để mà hân hoan, để mà hài lòng, để mà thỏa mãn về tất tần tật mọi thứ đã xảy đến với cuộc đời của mình như lúc này. Ờ thì dường như tất cả mọi thứ đều buồn bã vào cái phút cuối, nên tôi nghĩ rằng tôi sẽ chạy suốt từ đây về tới tận nhà nghỉ mà không ngừng dù chỉ một giây nào hết, tựa một mũi lao xuyên qua cơn gió, lấy ngay chính nỗi buồn sau chót làm vòng hồng tâm êm ái để nhắm vào.

Hôm nay, từ sáng sớm, tôi bắt xe buýt ra thị trấn Vạn Giã để kịp một chuyến tàu nào đấy ra đảo Điệp Sơn. Tôi thì nghĩ rằng Điệp Sơn vốn không đẹp, chỉ là vì hiếu kỳ một hòn đảo nhỏ nằm giữa lưng chừng vịnh Vân Phong nó sẽ thế nào. Tôi tìm thấy tàu Phượng Đồng ngay bến Vạn Giã. Tôi gọi điện thoại cho anh chủ tàu thì được biết 8 rưỡi tàu mới rời bến. Vậy là tôi tranh thủ kiếm đồ ăn và loanh quanh chỗ cầu cảng để thấy được khung cảnh nhộn nhịp trước khi tàu khởi hành. Người ta chở mọi loại nhu yếu phẩm, đồ đạc ra Điệp Sơn. Đồ ăn, thức uống, cả chục cây nước đá mát lạnh, cột làm nhà, mấy thiết bị kỹ thuật sửa chữa máy móc gì đó. Theo tôi thấy thì đủ cả. Và ngày nào cũng có tàu đi về như vậy, vừa chở người dân, vừa chở hàng hóa các thứ. Quá 8 rưỡi thì các sợi dây tời buộc vào cầu cảng mới được tháo ra, tiếng máy nổ phành phạch cất lên và con tàu tách bờ, chầm chậm xoay mình rồi hướng mũi ra khơi. Tàu chạy chéo góc so với đường bờ biển, chếch lên phía tây bắc. Lúc này, Điệp Sơn chỉ là một mô đất nhỏ tí ở tít đằng xa. Mặt biển ngời lên xanh biếc. Những cuộn sóng bị mũi tàu tách ra làm đôi hết lần này đến lần khác. Có một con chim hải âu đậu trên chiếc cọc tiêu cắm giữa lòng biển dõi nhìn con tàu với một thái độ hoài nghi lạ lẫm. Trong thế giới của nó, cái loài vật con người thật hết sức biết cách giải trí bằng cách tụ tập nhau trôi nổi trên một tấm gỗ được thiết kế kì dị. Cái loài vật mà triết lí sống không được đặt trên đôi cánh và bộ lông vũ đang lao đi với một sức mạnh nào đó nó chưa hiểu hết được. Dù sao thì trông cũng khá khôi hài, có thể khiến nó tiêu khiển được một chút sau bữa sáng đậm hương vị cá mòi nó vừa dùng xong. Còn trong thế giới của những con người trên tàu, một con chim hải âu đứng trên chiếc cọc tiêu bằng đôi chân của chính nó thì chẳng có gì phải để ý. Một con chim thì chẳng có nghĩa lý gì, so với những câu chuyện các mẹ đang kể nhau nghe huyên náo giữa khoang chất hàng, so với điếu thuốc đang cháy trên môi người cha ngồi khuất đằng sau đuôi tàu, so với tiếng khóc của đứa bé chưa đầy một tuổi vẳng trong ca-bin chở khách, so với ánh mắt sâu thẳm người ta dành cho đường chân trời và cho dải đất liền đang dần cách xa mỗi khi có những khoảng im lặng hiếm hoi bất ngờ xuất hiện chiếm hữu bầu không khí nơi đây. Tôi là một con chim hải âu trong thế giới loài người, nhưng đồng thời triết lí của tôi lại không đặt trên đôi cánh bay lượn. Tôi hoài nghi sự gắn kết, lời đối đáp trong tiếng nói giữa những con người ấy với nhau; tôi thầm quan sát cách họ vung tay và cách ánh mắt họ chạm tới cái nhìn của người đối diện. Mỗi cử chỉ, mỗi âm thanh, sự bày tỏ thái độ thông qua những lớp cơ mảnh dẻ dưới làn da trên từng khuôn mặt đều được tôi kiên nhẫn ghi lại vào trí óc. Tôi mơ hồ nắm thóp được cuộc đời mỗi con người có mặt trên tàu. Nhưng chẳng để làm gì. Tôi chụp cho họ một kiểu ảnh, theo như yêu cầu, nhân lúc ống kính đang nấn ná ở một khung trời xa, và họ thì bảo, ‘sao không chụp cho bọn cô một tấm’.

Điệp Sơn là một chuỗi ba hòn đảo nối với nhau thành một hàng thẳng. Nếu đứng từ dưới đáy biển nhìn lên thì nó hẳn là một dãy núi dưới trung bình với ba mỏm núi không quá cao lắm. Trên đảo chính, đảo ngoài cùng bên tay phải, khi nhìn từ hướng biển Đông vào, còn gọi là hòn Bịp, có một ngôi làng mang chính tên Điệp Sơn. Dân cư tập trung ở đó, với những ngôi nhà gạch nho nhỏ, và những khoảng sân rộng. Khi chiếc tàu Phượng Đồng cập bờ, người này người kia kéo đến để lấy hàng chật ních cả bến cảng. Cảnh tượng thật nhộn nhịp chẳng khác gì một buổi chợ phiên vừa đến tầm, đối nghịch hẳn với khung cảnh mặt nước xung quanh, nơi mà nhiều con thuyền của ngư dân trong làng nằm thả neo, chụm vai vào nhau, trầm mình tĩnh lặng trong giấc ngủ sau một đêm bận rộn đánh bắt cá ngoài khơi xa. Tôi đi xuyên qua làng, theo những con hẻm nhỏ, để đến phía bờ biển nơi có con đường cát trắng nối từ đảo này sang đảo khác, nằm ẩn dưới làn nước mặn. Ở phía đó, có một nhà hàng khá rộng rãi, mở ra để phục vụ những lượt khách du lịch thường chỉ ghé bằng ca-nô đến đảo nội trong ngày, từ sáng cho đến chiều. Nhà hàng còn đang cho xây thêm những chòi lớn và nhà phục vụ để khách có thêm không gian vui chơi. Tôi bắt chuyện và làm thân được với nhóm thợ xây dựng đang làm ở đấy. Họ ở bên đèo Cổ Mã sang thực hiện công trình này đã được hai tháng. Ở đảo chẳng có gì ngoài nắng, công việc lao động chân tay khiến người ta rất chóng mệt. Cả một thùng cỡ tám lít chứa trà đá vơi dần trong khoảng hai tiếng, cho đến giữa trưa là cạn. Giữa trưa cũng là thời điểm mọi người ngừng tay để ăn uống và nghỉ ngơi cùng nhau. Những cơn gió bắt đầu trào lên khiến không khí dịu bớt sự oi ả của mùa hè. Mấy người thợ ở đây khá là khoái chụp hình. Họ hỏi tôi về máy móc, rồi ống kính các thứ, đồng thời khoe những chiếc điện thoại xịn mà họ dùng để chụp biển và bầu trời. Ăn uống xong ai nấy đều lăn ra những phiến gỗ bản dài để ngủ. Tôi cũng vậy. Sao ở đây bình yên và đơn sơ đến thế. Tôi nhìn vô định vào chiếc vì kèo đỡ lấy phần mái nhô ra của căn chòi. Rồi thiếp đi trong ánh nắng chan chứa và gió biển ngập tràn.

Buổi trưa trôi qua. Chiều đến. Những du khách đến đảo thưa dần. Còn chưa đến xế mà bãi biển hầu như đã không còn ai. Nhà hàng bắt đầu dọn dẹp, sắp xếp bàn ghế gọn ghẽ để đón khách vào hôm sau. Hai con đại bàng, vốn dành cho du khách chụp hình hoặc thích thú hơn là chơi trò ‘bổ nhào từ trên không, chao liệng một cái rồi tìm đậu trên tay’ mấy vị khách, được cho bay lượn lần cuối, rồi cũng theo hai người huấn luyện chuẩn bị lên ca-nô về bờ. Qua đợt bão hồi cuối năm ngoái, Điệp Sơn vẫn còn đó những dấu tích chưa phai. Những rặng dừa ngả nghiêng không hàng lối. Con đường cát nối giữa các đảo bị sóng đánh dạt mất, chìm sâu trong lòng nước, rất khó nhìn thấy, nhất là khi bóng mặt trời bắt đầu lẩn vào phía sau những tầng mây dày ở phía đằng Tây. Tôi quyết định thử tìm lối băng sang đảo bên kia, bằng cách hướng theo mũi cát đang lộ ra khi nước triều bắt đầu rút đi. Từng cơn sóng đẩy nhẹ qua chân. Mặt cát thoải dần, thoắt cái mực nước biển đã chòng chành đến đùi, rồi đến hông và bụng. Xa phía trước, một con thuyền chạy vượt ngang tuyến đường mà tôi định đi, cho thấy mực nước chỗ đó đủ sâu để chân vịt không bị vướng vào những cây tảo biển mọc đầy ở dưới. Tôi hơi ngần ngừ, xong vẫn tiếp tục tiến lên. Được gần nửa đường, nước đã dâng đến xém ngực. Thêm một đoạn nữa, nó vẫn giữ nguyên như vậy. Tựa như tôi đã chạm tới bình nguyên của lòng biển. Mặt nước lúc này êm đềm, chỉ có những ngọn sóng nhỏ nhấp nhô, chấp chới di chuyển theo làn gió thổi về phía đất liền. Mặt đất dưới chân tôi là một nền phẳng không còn cảm nhận được độ nghiêng nữa. Những nhánh tảo mọc thành bụi dày đặc hơn, có khi còn hợp với nhau thành cả một khu công viên sinh thái lớn. Tôi khá tránh đi vào mấy chỗ tảo rậm rì đó vì sợ có sinh vật nào đó không hay ho lắm trốn ở trong. Và tôi thì đang đi chân trần dưới lòng biển nữa. Tôi chẳng mang đôi dép nào theo và giày thì không thể để ướt được. Thế là ngay từ đầu tôi đã lội chân không xuống biển. Nhờ vậy mà tôi mới ghi nhớ được rõ ràng con đường bên dưới vào trong đầu mình. Thực ra thì cũng không có gì; ngoài cát, sẽ có sỏi, những mảnh sò hoặc trai, hến đã vỡ, những vỉa đá nhỏ hoặc lỗ rỗ hoặc sắc lẹm nhô lên khỏi nền cát, những dây tảo biển đung đưa cuốn lấy chân, một vài loài giáp xác điển hình như cua thấy động là chạy khỏi chỗ nấp; nhưng bằng cách “sờ” qua hết những thứ ấy bằng chính đôi bàn chân của mình, tôi thực sự cảm thấy gần gũi hơn với chúng. Thậm chí còn có phần thân thiết theo một lối nào đấy. Càng đến gần hòn đảo bên kia, đáy biển càng trở nên gồ ghề. Những cụm đá to hơn và sắc cạnh hơn, chúng chiếm hết khoảng không để di chuyển. Mỗi bước tiến của tôi thành ra gặp khó khăn vì cứ đặt chân xuống là bị đá cứa phải. Tôi dừng lại, thoáng lưỡng lự rồi bỏ cuộc, không muốn tới bờ bên kia nữa dù chỉ còn khoảng năm mươi mét. Tôi bỗng muốn đi tìm một thứ khác. Một thứ hấp dẫn hơn.

Khi ở giữa biển khơi như thế này. Nếu có thể biến mất mãi mãi. Chỉ cần cứ bước đi. Xa hơn. Xa hơn nữa. Tận sâu vào trong lòng biển cả mênh mông nước. Không bao giờ trở lại. Tôi nhớ đến những người đàn bà của biển trong Bão. Mường tượng cách họ lặn ngụp trong làn nước xanh thẳm, mường tượng ra tiếng kêu của họ cất lên mỗi khi họ trồi lên từ phía đáy biển. Cuộc sống của họ hẳn là kỳ thú, đối với người ngoài, như tôi. Nếu có một cuộc đời tự do như họ, hiển nhiên thật tuyệt vời. Nhưng khi tôi đứng giữa khung cảnh ấy, lúc mực nước đã trào qua quá ngực, tôi đã thấy một nỗi cô đơn khủng khiếp bao trùm lên nỗi lòng của họ vào cuối những buổi chiều hôm. Mặt trời chìm vào làn mây sau rặng núi xa. Ánh sáng mà nó để lại biến thành một dải ráng hồng loang trên nền trời mù mịt. Đường bờ biển lấp loáng những ngôi nhà nhỏ đã lên đèn. Từ trên cao, bóng tối sà xuống một cách chậm rãi, tóm lấy mọi cảnh vật trong tầm tay và vứt chúng vào trong vạt áo choàng đen đúa của mình. Tôi, khi đó, đã đi khỏi phạm vi rìa của hai hòn đảo được một quãng, hướng về phía đất liền. Nếu tiếp tục tiến bước, chẳng mấy chốc tôi sẽ rơi vào vùng lòng chảo sâu đến chừng nào không biết. Thân xác tôi đang được vây quanh bởi bốn bề là những đợt sóng nước dập dềnh nhô lên hụp xuống. Gió chiều lại đang trở lạnh. Phải chăng đấy là một khía cạnh khác của tự do mà tâm trí tôi đang dấn thân vào. Thiên nhiên và con người có khi cùng một giuộc với nhau cả. Có lẽ là thế. Chúng ta cứ sống theo cách mà chúng ta muốn, theo đuổi giá trị bằng thứ sức mạnh nhấn chìm kẻ khác. Chúng ta chẳng bao giờ tự hỏi tại sao lại thế, nhưng rồi khi đối diện với nỗi lòng mình, khi những người đàn bà của biển thoái thác một cuộc đời khác của họ sau lưng, hay khi những cơn bão quên đi rằng nó đã từng sống những tháng ngày yên ả, chúng ta lại cảm thấy lạc lõng ngay ở cái nơi chúng ta đang thỏa sức vẫy vùng. Giá như có thể liều lĩnh thử vận may của mình một lần duy nhất trong đời. Một lần cho tất cả. Rốt cuộc, khi tất cả mọi thứ đều kết thúc trong nỗi buồn. Thì trên con đường đi tìm tự do, mọi thứ, thôi, vốn dĩ cũng đã thật buồn bã.

Hôm nay, tôi nhận ra rằng mình đã dành tình cảm cho C. thật là nhiều. Ngày nào tôi cũng mong ước được gặp C. và nghe cái giọng nói khiến tôi nhung nhớ suốt mấy tuần trước. Có lẽ vào một lúc nào đấy tôi sẽ nói thích nàng. Nhưng, lại có lẽ lần nữa, là ngày đó còn xa vời quá; chính tôi không biết tại sao nhưng nó cứ diễn tiến như vậy. Sài Gòn, đang là mùa nắng. Hay đang là mùa mưa. Đôi khi, ở một mảnh đất xa lạ, bạn sẽ không cố gắng tìm hiểu mọi thứ nữa. Thời gian trôi nhanh hơn hay chậm đi, nó cũng chẳng thành vấn đề. Bạn sẽ không quan tâm Sài Gòn đẹp nhất khi nào, hay ở đâu, dù thỉnh thoảng bạn có đề cập chuyện đó trong một buổi cà phê lúc chớm chiều với một người Sài Gòn kiên định nào đấy. Thậm chí, bạn sẽ không chú ý tới cả những con đường trong một thời gian dài, mặc cho bạn có qua lại cùng một ngả ngã tư không biết bao nhiêu lần. Cuộc sống luôn tồn tại một sự mờ nhòa. Bạn quên đi những nơi bạn đến, những con người bạn gặp. Những thói quen cũ trở nên xa xỉ rồi dần biến mất. Hà Nội, những ngày mưa rất rát, sủi tăm cả mặt đường. Cơn mưa rào phả mùi đất và mùi rễ cây nóng hổi vào trong không khí. Mùa hè là mùa nhộn nhịp của những màu sắc đan xen lúc tan tầm. Những chiếc đèn pha xe cộ trở nên dịu dàng hơn qua lớp áo mưa. Ve thôi kêu, hoặc bị át đi bởi những hồi còi rắt réo. Khi ngồi thu lu một góc bên cửa sổ và trái tim đang hát bài Mọi thứ rồi sẽ kết thúc trong nỗi buồn, tự nhiên những vệt nước lấm tấm phía ngoài ô kính trong trĩu xuống, hòa quyện với nhau thành một dòng chảy khó đoán định tràn xuống mép cửa, căng mọng lên thành một giọt pha lê, rồi rơi xuống cả biển phố buồn bã phía dưới.

It has been Hanoi

Năm nay mùa thu đến sớm hơn so với dự định. Buổi sáng nắng lên, quyện hơi nóng vào lòng từng con ngách nhỏ, rồi dần dịu đi, trở thành một nàng con gái hiền hòa yên ả từ sau giờ trưa cho đến cuối chiều. Có mấy hôm, trời hơi mù. Thế là nàng ta thoáng chút sắc màu ủ rũ; ở cạnh nàng là những cơn gió heo may hết độ xuân thì, hễ với được người quen trên đường là lại thầm thì tiếc nuối chẳng biết ngừng về một lời hứa nào đó ban xưa không thực hiện được. Bên con phố ít tiếng xe qua lại, cái se lạnh mới đầu thu của Hà Nội vào những ngày ráo nắng và gió mùa về ấy bất chợt khiến cho mỗi cuộc sống ở trong nó trở nên trầm tư hơn một chút, mỗi trái tim đập trong nó trở nên bịn rịn hơn một chút.

Hà Nội luôn là một cái nôi khơi gợi nhiều suy nghĩ. Cái chất trữ tình nên thơ của nó luôn làm tôi và những người xung quanh cảm thấy háo hức trên con đường khám phá con người mình. Chúng tôi xoay vòng trong nội tại của bản thân, càng ngày càng mở rộng nó ra và đào sâu nó thành một cái hố trong tâm hồn. Chúng tôi tìm kiếm tự do trong đó. Và trong lúc chúng tôi đi tìm sự tự do, chúng tôi học hỏi lẫn nhau và trao đổi về thứ tự do chúng tôi vẫn mong tìm kiếm được. Từ đó, chúng tôi trở nên hiểu biết và gắn kết với nhau bởi những con đường chúng tôi đi, bởi từng viên gạch chúng tôi gỡ ra hay đặt vào những ngôi nhà chúng tôi sống. Có vẻ giống như là một sự lãng mạn – tôi muốn đặt tên cho nó, ví dụ hãy lấy tên là sự lãng mạn suy tư. Sự lãng mạn suy tư của chúng tôi bắt đầu nảy sinh giữa những kẻ có cùng tâm tư suy nghĩ, thèm muốn chung một thứ tự do, chẳng cần phải tự do đến vô cùng lắm, nhưng ít ra cũng phải khác cái thứ tự do kiểu lò xo, mà giá trị của nó chỉ giới hạn trong một biên độ nhất định được. Sự lãng mạn xuất phát từ tâm hồn tình cảm đó phần nhiều đã ảnh hưởng lên tinh thần chúng tôi, biến đổi nó và khiến cho chúng tôi có thể đứng nhìn cuộc đời ở một vị trí khác so với trước. Tất nhiên, mỗi đứa sẽ có những vị trí đứng nhìn cuộc đời rất khác nhau. Ở vị trí của tôi, Hà Nội, cho đến một ngày, bỗng trở thành một nơi chốn nửa này, nửa kia; khiến tôi trầm tư chẳng muốn quay về khi xa cách, nhưng lại có gì đó bịn rịn khi đến ngày cách xa.

Hà Nội, tháng mười, hôm nay. Cái chất xao xuyến tình tứ đã hết dần hoặc đã thu gọn vào những góc bờ kín kẽ không còn dễ thấy nữa. Hà Nội với tôi lúc này trở thành một vật thể trong suốt, với những khu nhà, những mảnh đất công viên, đường sá và các hồ nước được chiếu xuống bẹp dí trên nên đất phẳng, những vách tường và hàng rào biến thành vành đai phân định địa giới, mà ở trong đó, từng chuỗi lịch sử chắp nối nhảy nhót lên trên xuyên qua các tầng lớp không khí, theo chiều ngược lại, những dấu tích chứng thực cho bao thời kỳ quá khứ đã từng hiện hữu thì lại vùi sâu mình xuống dưới đất như muốn giấu diếm bản thân khỏi những câu chuyện kể. Hà Nội, cái công trường của sự sống suốt hàng nghìn năm, giờ, sao nhộn nhịp. Bắt đầu từ mảnh đất bé tí hon giữa vùng nước trong lòng châu thổ, Hà Nội đã lan tỏa và phát triển thành một đô thị sầm uất của loài người. Nó đã gây dựng nên một thứ văn hóa thuộc về đất đai ít đâu có được, một thứ mùi vị điệu đà, hấp dẫn kích thích hàng chục khối nhà mọc lên như nấm sau mưa mỗi năm. Những bức tường bê tông, nặng nề có, nhỏ nhắn xinh tươi có, theo nhau án ngữ các góc trời, dần biến con người thành loài vi khuẩn sống kí sinh phía trong các ô cửa kính đóng kín, chờ đến kẻng tan tầm mới túa ra khỏi nơi ẩn nấp trở về nguyên hình dạng, nhưng chỉ được một lúc thôi là chúng lại hòa lẫn vào trong bóng tối đã sẵn sàng. Khi mặt trời đã tắt, ánh sáng từ dãy đèn chiếu sáng công cộng và từ những cửa hiệu mặt tiền bóng loáng hiện ra đổ lên mặt đường, những mái đầu được che chắn, những khuôn mặt nửa sáng rầm rộ chen chúc nhau khắp các tuyến phố ngắn, dài vốn từ lâu đã đan thành một tổ hợp các mê cung chằng chịt trong thành phố. Nhìn dòng người di chuyển, người này vừa qua, người kia đã trờ tới tiếm chỗ, tôi cứ thầm tưởng tượng ra tấm bản đồ Hà Nội ở trong đầu. Khi đó, Hà Nội với những hình khối biến thành vô hình trong suốt, chỉ còn là một tấm giấy phẳng lì. Những khu nhà dẹp lép thành những ô vuông. Đường sá trắng tinh, tuyệt nhiên sạch bong không có một bóng người. Những địa danh được viết lên nhằm gợi nhớ đến hình bóng lịch sử. Và ở phía bên kia, sông Hồng như nàng vệ nữ ương ngạnh, lẻ loi vẫn miên mải ngày đêm ôm trọn lấy một bên thành phố.

Hà Nội, chiều hoàng hôn. Hà Nội hóa thành một màu. Màu hoài niệm. Vẫn những con người sống ở đây ngót nghét đã mấy chục năm. Hàng dây điện đã tồn tại được vài thập kỷ. Những nơi cấm đổ rác biết bao lâu nay thì người dân vẫn cứ vứt rác thải của gia đình trong ngày ra đều đều. Những quán xá đã bán hàng mỗi năm năm qua, giờ lại tiếp tục bán hàng thêm một chu kì năm năm nữa. Đối với Hà Nội, thời gian dường như chẳng là gì. Đối với thời gian, Hà Nội vẫn đang tiến triển và đổi thay, thành cái gì thì có lẽ chỉ có mấy ông trong Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố mới biết được, nhưng chắc chắn là khác xa so với vùng đất Đại La nhỏ bé ngày xưa. Còn thì Hà Nội đã là Hà Nội, vẫn sẽ là Hà Nội. Vẫn sẽ có mùa thu trong mắt trong của những kẻ biệt ly.

Ở đâu khi tôi chẳng biết mình muốn gì

Đêm không ngủ. Tiếng quạt gió ào ào. 4:04 phút sáng. Tôi trằn trọc với những suy nghĩ về công việc, về cuộc sống, về những mối quan hệ gần đây.

Tôi mở đọc những thứ mọi người viết. Cô ấy, anh ấy, em ấy hay chú ấy, chị ấy, bác ấy; vẫn tiếp tục viết. Những dòng cảm xúc của mỗi con người ở đó vẫn vậy. Không suy chuyển. Sự âm ỉ của mỗi trái tim, qua năm tháng, vẫn được bồi đắp và sẻ chia. Những con người ấy vẫn còn tận tụy với bản thân và tâm hồn mình đến thế. Ngay từ cái cách họ bắt đầu, tôi đã thấy được, sự kiên trì hiển nhiên có muôn vàn cơ hội để nảy nở và bén rễ cùng họ cho tới bây giờ. Một sự kiên trì sắc bén, ngọt ngào lọt thỏm giữa cái thế giới tinh quái đầy xáo trộn này. Liệu họ có là những cánh bướm ma thuật nào đó không nhỉ. Chỉ cần họ vẫn dập dờn đôi cánh, sẽ có ngày Trái đất đổi béng nó trục quay của mình, lạng vô đám vân thạch sứt sẹo nào đó, té sấp mặt và rớt văng khỏi quỹ đạo nhật tâm chán bỏ đời. Nhân loại nhờ thế mà sẽ được du hành vũ trụ khi vẫn còn tận hưởng cuộc sống trên chính tinh cầu quê hương và đỡ bị quấy rầy bởi mấy dự án xuyên không lên sao Hỏa hay sao Kim hay một vì Enceladus xa xôi. Cho đến khi quả đất rớt đến tận mép rìa vũ trụ hay chuẩn bị rơi vào một cái hố đen mạt hạng không quen biết, hàng triệu người có thể cảm thấy an lòng vì đã chẳng lãng phí thanh xuân trước khi biến mất vào cõi thinh không không còn một dấu tích.

Tôi vẫn hằng muốn kể một câu chuyện giản dị. Nhưng lại không hề biết một chuyện nào như thế. Tôi có nên bịa đặt lấy một chuyện? Nên bắt đầu từ đâu? Tôi nhớ đến hình ảnh L. ngồi dưới bóng cây, đưa mắt nhìn một lượt khung cảnh mùa hè diễn ra trước mặt, trong tay là đóa hướng dương đang bung rời những cánh nắng. Em gần như muốn nhận xét một điều gì đó, rồi lại thôi. Có lẽ là do sắc trời đang đẹp đẽ quá. Tôi nhớ có một hôm, lâu lắm rồi, đi mua ít đồ. Tôi nhận tiền thối lại. 500đ. Thường thì tôi hay nhận được hai cái bì thư, nhưng hôm nay tôi nhận lại số tiền thừa đúng 500đ. Đỏ quạch. Màu đỏ khiến cho lòng dạ khấp khởi niềm vui và một niềm háo hức bất ngờ dậy sóng. Là một dấu hiệu tuyệt vời phá cách cho cả tuần buồn chán. Tôi nhớ Hà Nội hôm nao vào cái lúc 4 giờ chiều. Lành lạnh và vẫn còn ít ánh mặt trời. Trước Phủ chủ tịch, từng nhóm khách Tây dừng lại bấm máy ảnh. Cờ Pháp và cờ Việt Nam song hành reo vẫy dọc tuyến phố. Bên đường, ba nàng thiếu nữ Hàn Quốc xinh xắn với tay theo những chiếc lá rơi. Tôi nhớ có lần tan tầm, gặp chắn tàu khi gần về tới nhà, cả cái ngã tư Khâm Thiên giao với Lê Duẩn trở nên ùn ứ và sôi động. Tôi chờ đoàn tàu chạy từ ga Hà Nội ra, mơ tưởng về thời quá khứ xa xưa khi còn là đứa trẻ con chạy nhảy ồn ã nơi đây, giữa những thanh tà vẹt xù xì xấu xí. Những lần vượt quá giới hạn đường tàu là những lần cùng bà ngoại bắt chiếc xích lô để sang nhà các bác ở tận Ngô Thì Nhậm hay Nguyễn Biểu chơi. Tôi nhớ đến những ngày, mưa lất phất từng hạt trên đám lá và đậu thành những vũng nhỏ trên hè qua lối lại. Mưa của tháng Tư. Chớp cái đã rơi. Chớp cái rồi tạnh, loáng thoáng như người ta đi qua nhau giữa các con phố. Những vòng quay xe đạp chở hoa lẹt xẹt trên đường. Mùi cà-phê lẫn trong làn khói nóng, bay tràn không khí. Tôi nhớ khi H. đứng ở đó, những sợi chỉ tóc tung bay lơ thơ cong tròn theo làn gió cuốn, ánh nhìn xa xăm. Cái ánh mắt ấy của H. sao mà trải dài đi mãi tận đâu. Mặt nước hồ gợn lên những cơn sóng nhẹ, một chiếc thuyền nhôm bơi qua trước mặt. Lũ cá rô phi vẫn quẫy đều trong chiếc xô nhỏ màu xanh lá đặt ở giữa thuyền. Tất cả những thứ ấy lần lượt hiện ra một cách vụn vặt trong trí nhớ. Ở mức độ vậy, chúng chỉ còn là những mảnh nhỏ vụng về, không đủ để ghép thành một câu chuyện như ý định nữa.

Có lẽ là tôi đang làm rất nhiều thứ linh tinh và đã đùa bỡn hơi lố với chính bản thân mình khi mà chẳng hề vạch ra một đích đến rõ ràng trong cuộc đời. Chỉ đơn giản tôi muốn làm thế này, làm thế kia trong một khoảng thời gian cũng thế này và thế kia, và nó rất là ngắn; vậy nên, chẳng thiết thực mấy, khi khoảng thời gian đó qua đi và tôi không còn những ham muốn.

Sau quãng đường dài o bế, cuộc sống bây giờ của tôi trở thành một mớ lộn xộn không có mục tiêu, không có quy tắc gì cả. Tôi thấy mình hành xử như một gã nghiệp dư kém cỏi trong việc sắp xếp ý chí của bản thân cũng như duy trì những phẩm chất và thói quen cũ. Tôi đã để vuột mất đi vị thế của kẻ đứng dựa lưng vào bờ rào mà nhìn ngắm xã hội trong vắt phía bên kia thành phố mất rồi. Đêm dài tĩnh lặng. Trí óc trơ trọi. Khi không còn biết mình tha thiết, mong muốn một điều gì nữa trên đời thì thật là chán.

L.

Những ngày này, thật buồn cười, khi thế giới đang xoay vần, thì tôi lại đắm chìm vào quá khứ. Không nhúc nhích ra được. Tôi tự cười mình mỗi khi không thể hiểu nổi bản thân. Và dù cho hôm nay tôi biết mình cần làm một ly cà-phê. Nhưng rồi rốt cuộc tôi lại không uống.

Hà Nội. Tháng tư. Những ngày đầu tiên.

Những ngày này, một năm trước, ở giữa những câu chuyện về Đà Nẵng, L bỗng hỏi tôi nếu không phải là Đà Nẵng nữa thì tôi sẽ ở đâu, nếu như sao đó mà em hông thể ở Đà Nẵng, cũng hông đến Hà Nội đâu, anh sẽ thế nào. Tôi sẽ thế nào? Nó gần như bao lời nói L và tôi vẫn hay đùa nhau những lúc cảm xúc của cả hai trở nên nhợt nhạt như màu của cây nấm rơm. Sẽ thế nào được đây chứ. Tôi cho rằng mình có thể hiểu được ý L khi đó. Tôi đã phải dành thời gian để suy nghĩ giữa những rối ren của chính mình và sự lấp lửng trong ý tứ của L. Tôi quay trở lại làm việc để L yên tâm. Tháng bảy, L không về. L nói sau tốt nghiệp còn làm cho xong công việc đang dở dang chưa hết tháng nữa.

Hay anh sang đây, đón em về đi.

————

Những ngày này, tôi và L, thật buồn cười, đều không ở Đà Nẵng, dù sang tháng chín, L cũng đã trở về, chúng tôi cũng đã gặp nhau, nhưng câu chuyện lúc đó chỉ còn là những chọn lựa buồn tẻ của cả hai. Tôi chọn đến Vũng Tàu sống. Còn L đã chọn trở thành cô gái sống cách tôi mười bốn tiếng ở một nơi nào đó phía bên kia bờ biển.


L, 1 year ago

Nếu có lúc nào đó anh nhớ Hà Nội và em nhất trên suốt chặng đường đã đi qua, thì đó chính là khoảng thời gian ngồi một mình bên biển Vũng Tàu, giữa hàng dừa cao vợi, ngày cũng như đêm cố với mình tới ngọn nguồn của những cơn gió biển ngoài xa. Chẳng có ai ở cạnh. Chỉ nghe ở dưới kia, khi vạt chiều vừa buông, biển khơi ào ạt tấp những con sóng vỗ lên bờ kè, đưa đi đẩy lại nỗi day dứt mà bất cứ sinh vật nào sống trên đất liền này cũng muốn trở về bên cạnh để tìm cách xoa dịu, an yên lòng dạ của nó, nhưng cuối cùng lại chẳng có thứ gì vừa vặn khỏa lấp, mà khiến nó nguôi ngoai được cả. Mặt trời thôi lấp lánh ánh trắng lên mặt nước. Những con tàu vẫn ngậm chặt mớ mỏ neo ngoắc sâu vào đáy biển cho khỏi bị cuốn đi xa, nếu như chúng có lỡ mộng mị chu du trên chuyến hành trình viễn tưởng nào đó trong giấc ngủ ngày. Anh ngắm hoàng hôn và những dãy dài bọt sóng, dường như tỏ tường được mọi sự cô đơn của loài người trong thoáng chốc, nhưng giây phút đó qua đi rất nhanh, tựa hồ bị cướp mất. Anh rồi trở về với những ô nhịp thinh lặng mở đầu những bản nhạc buồn bã. Muộn phiền quẩn quanh khi nhìn hình bóng mọi người ngang dọc trên đường. Anh đã mong rằng mình chẳng có phương cách nào để quay lại Hà Nội nữa, giữa cái lúc nhớ em đến vậy. Rốt cuộc, anh đã muốn theo đuổi điều gì khi đọc xong lời em nhắn gửi. Để đi đến một nơi nào đó, phải chăng cũng là cần dũng cảm để xa rời một nơi nào đó. Anh có biết không? Anh thật lòng biết chứ.

Những dự định

Vậy là đã sang năm 2017. Trái Đất vừa hoàn thành một chu trình quanh Mặt Trời và giờ là lúc để nó bắt đầu một vòng quay mới. Cuộc sống năm nay của tôi bỗng trở nên tự do hơn và điều đó trở thành một vấn đề lớn. Tôi băn khoăn với việc mình nên ổn định hay tiếp tục hoang dã. Tôi mất đi một mục đích lớn trong đời, cảm thấy mọi chuyện dường như không còn suôn sẻ với mình nữa. Như một lẽ dĩ thường là tôi bắt đầu hoang mang. Xụi lơ trước thực tế rằng tôi không hề có kế hoạch gì cho giai đoạn này cả.

Sáng nay lôi xe đạp ra lau rửa. Cũng để nó bám bụi lâu rồi. Tôi nghĩ về những chuyến đi. Liệu còn nơi nào tôi muốn đến, điều gì tôi muốn thực hiện. Dường như không có. Việc đó tệ không nhỉ. Khi đánh mất bản thân vào một nơi nào đó không có lối ra. Quãng đường xe đạp cuối cùng của tôi trong năm cũ dài 324 ki-lô-mét. Nó bắt đầu từ thành phố Phan Thiết cho đến thành phố Vũng Tàu. Đó là những ngày buồn cười, khi lòng tôi nhẹ bẫng đến lạ kì. Những con đường nhỏ, những ngôi nhà nhỏ, sát biển, mang một vẻ bình dị ít đâu tôi thấy được. Ở những nơi vắng lặng, tôi thường gặp những người xa xứ. Là những người phụ nữ đã lớn tuổi. Họ bỏ quê ở Bắc từ lúc còn thiếu niên, vào đây, làm việc, kiếm lấy mảnh chồng, rồi cứ thế tiếp tục làm việc và sinh sống. Đến lúc có con, họ mở những quầy giải khát nhỏ, dựng bên trong những lán nhà bên đường, có nhiều bàn và ghế để phục vụ khách đường xa dừng xe nghỉ ngơi. Bọn họ ít về lại quê cũ, nơi ba mẹ họ vẫn còn sống, có người hơn 20 năm rồi chưa quay lại làng mình lấy một lần. Thân con gái, lấy chồng xa, dặm trường, rồi con nhỏ líu ríu, kinh tế không được mấy, cứ mỗi kì ghe đánh cá của chồng ra khơi là lại ngóng chờ ngày này qua ngày khác, tuần này đến tuần khác. Họ sống ở trong Nam nhưng lại luôn mang những niềm tâm sự mà người phụ nữ Bắc nào cũng có. Khi không có ai để sẻ chia, họ đành hòa mồ hôi và nhịp thở cùng những cơn gió biển.

Mẹ tôi vừa bảo cứ mỗi lần tôi mang xe ra rửa ráy các thứ là y rằng lại có chuyện. Chắc mẹ đã ám ảnh với những chuyến đi của tôi mất rồi. Kì thực, tôi chẳng có dự tính cho một đích đến nào trong năm nay cả. Trước mũi tôi còn có bao điều mơ hồ. Khi sự tự tin của tôi đặt lên các ngả đường ngày càng sụt giảm, ấy là lúc tôi lại cảm thấy thất vọng về bản thân. Đó là một sự thất vọng nửa vời, phải, tôi biết chứ, vì sự thất vọng đó không đòi hỏi tôi phải cố gắng nỗ lực gì cả. Đó là một sự thất vọng cho có.

Chắc chỉ là để chứng minh chưa chắc những gì tôi muốn là tôi hoàn toàn có thể thực hiện được. Có lẽ tôi nên ở lại Hà Nội và làm việc như một con người bình thường, trả hết số dư nợ từ năm trước, kiếm đủ miếng cơm, dư thừa thì tích lũy cho tuổi già. Có lẽ tôi nên đi chơi như năm ngoái, nhè đúng Tết thì rời khỏi nhà, rong ruổi trên những vùng đất xa xôi. Tôi vẫn đang định ghé Myanmar, đó là một mảnh ghép trong cuộc đời tôi vẫn thấy thiếu. Dù không dám quả quyết, nhưng tôi cần hít thở không khí ở nơi đó, bản năng mách bảo tôi vậy. Có lẽ tôi nên chuyển tới Đà Nẵng như tôi đã muốn từ năm ngoái, đó là một nơi tôi nghĩ mình có thể tiêu sầu. Vì chẳng có gì ở đó có thể khiến con người ta tiêu sầu được cả. Một nơi cô đơn và buồn thẳm, có sông, có nhiều cây cầu, có biển, có vịnh, có đèo, có núi; nhưng tất cả chỉ có vậy. Không có ai, không có người nào, có lẽ đó là cuộc sống dễ chịu nhất tôi có thể toan tính được. Có lẽ tôi nên vào Sài Gòn. Có lẽ không. Kể từ lúc biết đến Sài Gòn, tôi không nghĩ rằng đó là nơi tôi muốn đến và muốn sống lâu dài. Có lẽ tôi nên ở Vũng Tàu. Tôi có thể ngửi thấy mùi Hà Nội ở thành phố đó. Một cảm giác thân quen khiến tôi thích thú khi loanh quanh những con phố. Hoài niệm phảng phất, thị dân tứ xứ; người Pháp hẳn đã bỏ lại cái chất trầm mặc của đội quân Lê dương tại những nơi này. Những người lính, từ nước này, từ nước khác, chung màu da hay không chung màu da, họ chiến đấu chẳng vì lý tưởng gì cả, họ chiến đấu chỉ vì họ đang cầm cây súng với những lưỡi mác trên tay. Những suy nghĩ của họ, liệu là đơn giản, liệu là phức tạp, liệu là những gì, khi họ nghỉ ngơi dưới bầu trời Hà Nội hay bên biển Vũng Tàu. Tôi chẳng thế nào biết được, chuyện của mấy chục năm trước, chuyện của mỗi con người. Quá khứ luôn thú vị vì tôi không thể biết chính xác nó diễn ra ra sao. Cả tương lai cũng vậy. Dự định có lẽ vẫn chỉ là dự định. Tôi còn cả một năm phía trước để diễn giải những dấu hiệu của riêng mình. Phải không?

I moon you, when muse wanes

Hôm trước, L bỗng nhắn hỏi tôi có mệt không. Tất nhiên là tôi kêu mệt ngay tắp lự. Tất nhiên là mệt rồi. Với đống suy nghĩ vậy. Còn em mấy tuần rồi có gì vui không. Chẳng có gì. Chỉ là những ngày cuối năm đang đến.

Năm vừa qua thật có nhiều điều để nói. Nhưng tôi xin giữ chúng như ý tưởng cho những câu chuyện sau này, nếu tôi vẫn giữ được niềm đam mê nhen nhóm ở chỗ nào đó. Còn chung chung thì năm nay tôi đi khá nhiều. Và hầu hết là tôi long nhong trên chiếc xe đạp của mình.

Những chặng đường tôi đã đi qua, dài có, ngắn có, mệt mỏi có, phấn khích có, chán ghét có, yêu thích cũng có; chúng khiến tôi có cơ hội để giết đi những khoảng thời gian đang sống của con tim và trí óc. Và thế thôi cũng là quá đủ.

Năm nay tôi dừng chân lại Đà Nẵng được hơn một ngày một chút. Nó khác xa so với kế hoạch ấp ủ ban đầu, dù tôi đã hỏi được chỗ thuê nhà, thì rốt cuộc, việc chuyển đến đó sống vẫn chẳng thực hiện được. Hết năm, tôi vẫn ở Hà Nội và cười.

Tôi có thất vọng không. Tất nhiên là có chứ. Không, không phải vì những dự định tôi không làm đến nơi đến chốn. Tôi thất vọng vì việc gạt ra ngoài cuộc sống những câu chữ hay ngôn từ trong hơn nửa năm cuối cùng cũng không làm tôi thấy khá hơn.

Ở một khía cạnh khác, tôi bắt đầu cảm thấy dễ chịu khi phải tham gia vào hệ thống phân phối tài sản của xã hội loài người. Đó là một sự thay đổi nhỏ, vừa buồn cười, lại vừa có gì đó mang tính then chốt. Rốt cục thì tiền cũng không phải một thứ đáng chán.

Tôi đang thèm một ly kem Ý năm viên ở Mũi Né và ngắm biển đêm. Và giá như có thể nói ra mấy điều tôi nghĩ bây giờ, như lúc đó, như lúc thừa nhận với L về sự giả dối của mình thì thoải mái biết mấy.

CSTD

Cuộc sống đang dần thay đổi. Những cái cây bị đốn chết. Những con cá bị ngộ độc chết. Người này lên làm thủ tướng. Người kia thôi làm tổng thống. Có những khoảng thời gian chẳng buồn làm gì. Có những lúc lấy công việc làm thú vui qua ngày. Một khi còn chưa chết. Chúng ta phải trải qua những ngày tháng hiếm hoi được sống. Được hít thở và thấy ánh mặt trời từ trên cao rọi xuống khi bình minh thức giấc, được thấy bóng tối phủ lên khắp mọi nẻo đường lúc hoàng hôn buông, được thấy thành phố sáng ánh điện trong đêm, được nghe người ta nói. Được nghe ai đó hát, được bày tỏ tấm lòng yêu thương đối với cái xã hội này và được cả xã hội mà ta hẵng còn mù mờ chuyện nhân tình thế thái ngoài kia mến mộ lại.

Chúng ta có còn là loài người không? Còn là một bầy thú quần cư trong thế giới tự nhiên rộng lớn này nữa không? Khi chúng ta ngày càng biến đổi. Chúng ta dần biến đổi cuộc sống của tự nhiên thành cuộc sống của loài người, rồi rốt cuộc biến nó thành cuộc sống của cá nhân riêng mỗi con người. Chúng ta chia cắt đất đai trên các châu lục bởi các đường biên giới quốc gia và hưởng thụ cả sự thái bình lẫn những cuộc chiến trường kỳ dai dẳng để giành giật từng mảnh đất liền trong đó. Một khi còn chưa chết. Chúng ta sẽ xây những ngôi nhà, sẽ đi trên những con đường, sẽ đắp những đập thủy điện, sẽ khai phá những mạng lưới đô thị, sẽ sáng chế ra đủ mọi thứ phục vụ cho cuộc đời mình. Ở bất cứ đâu. Chúng ta luôn có tham vọng biến đổi. Dù là những con sóng ngoài đại dương cũng không thể cản. Một khi còn chưa chết. Chúng ta luôn muốn đặt chân đến bất cứ đâu chúng ta còn chưa tới được. Dù là một mẩu đất nhỏ chỉ bằng cái mũi giày giữa biển cả trùng khơi. Tất cả đều là vì những lợi ích không thể chối từ đối với mỗi chúng ta trong quãng thời gian hiếm hoi được sống.

Những ngày này, tôi vui thú với công việc mới, dù còn lâu nữa tôi mới nhận được tiền lương cho hai tháng làm việc đầu tiên. Tôi vui thú được cũng phải. Vì tôi chẳng phải lo gì. Cuộc sống của một thanh niên Hà Nội sớm chẳng vừa, trưa chẳng vội, thảnh thơi, không vất vả, nó là thế. Tôi là một mảnh nhỏ trong cái tàn dư của một thế hệ khổ sở ở thủ đô. Vì vậy, tôi khổ chẳng được mà sướng cũng chẳng xong. Lưỡng lự giữa hai thái cực, cuối cùng tôi chọn cách biến đổi. Một khi còn chưa chết. Tôi sẽ chọn vui thú với thứ này, thứ kia. Tôi chọn cách giết thời gian còn sống của mình và vui thú với những phương thức mình tạo ra để phục vụ cho điều đó. Tôi chơi đùa với những khoảnh khắc hiếm hoi còn được tồn tại, lúc này, lúc kia, lúc thì ngắn, lúc thì dài. L đã sớm nhận ra được điều đó. L từng bảo tôi là một thứ gì đó dù rất thực nhưng lại phảng phất, chẳng thể nào nắm bắt dù có nhìn tỏ hình dáng. Một thứ trông là thế lại chẳng phải thế. Một mảnh đất chẳng có biên giới, nhưng cũng chẳng tồn tại bất cứ một cái gì khác nữa nếu đứng nhìn từ đây. Người ta chẳng muốn chia nhau sống trên một mảnh đất như vậy. Còn nếu đứng từ đây mà nhìn, anh sẽ là vực thẳm. Liệu có ai còn muốn tới?

Những ngày này, L cũng đang dần biến đổi. Tôi chỉ là không biết tham vọng của em tới đâu, khi mà chúng tôi cứ ở xa nhau hoài vậy.

Chuyện gì đã xảy ra

Hôm nay, tôi quyết định dừng viết Đ.T.H. Tôi nhận thấy rằng càng ngày tôi càng viết chậm đi. Từng trang giấy chỉ nhích lên chút một qua mỗi tuần. Tôi gặp vấn đề khi làm việc với các tư liệu. Tôi chán bản thân, với số kiến thức nền nhỏ nhoi, tôi khó lòng xây dựng được mọi thứ hoàn hảo. Nhưng khổ nỗi, tôi lại là một người tiểu tiết. Nên là khi muốn làm điều gì đó, tôi luôn muốn làm sao cho tốt nhất, từ cái to cho đến cái nhỏ, cho đến cả những thứ lặt vặt đi kèm. Điều đó khiến cho tôi phải tra cứu khá nhiều khi viết những tháng gần đây. Thế mới biết, càng dấn thân vào sâu, càng có nhiều thứ tôi cần phải trau dồi, tức là phải học, học thực sự ấy chứ không phải là học hỏi qua quýt, học để biết vậy, và nữa là cần phải trải nghiệm, phải thấy. Tôi chủ yếu lưu giữ những tra cứu, lượm lặt của mình trong một danh mục mà tất cả các mục đều ngang cấp với nhau. Và chúng nó bắt đầu trở nên dài thườn thượt, rối rắm, lạc loạn, khi lượng kiến thức tôi cần xem tới được bổ sung vào đống danh mục đó càng lúc càng trở nên nhiều không kể xiết. Trí nhớ của tôi đối với những thứ ngắn hạn vốn không được tốt. Sau khi chắp nối các mắt xích lại với nhau, tôi cho thế là xong và quên bẵng đi làm thế nào mà tôi lại có thể liên kết tất cả bọn chúng lại như thế. Đến chừng khi một mẩu xích nào đó bắt đầu lỏng lẻo. Tôi chỉ còn biết đần mặt ra tự hỏi, làm thế quái nào tôi biết đến cái thứ này và tại sao tôi lại chọn bày biện cái đống của khỉ đấy ở đây vậy. Thế nên, điều tất yếu xảy ra trong thời gian rồi là tôi cảm thấy khó khăn để có thể tiếp tục làm việc trên mớ hỗn độn giờ đây đã chình ình thành một vạt rừng bí ẩn mà tôi đã mất đi khả năng gọi tên bất kỳ loài thực vật nào bên trong nó.

——– Hắn ngồi đó, trũng thân hình trên khung hàng rào gỗ duy nhất sót lại, mà cùng với nó, có hàng trăm mớ dây kẽm gai uốn vòng, đan xen chằng chịt, hợp thành một vành đai cao gần mét rưỡi bao quanh lấy khu đất nông trại rộng tới ba ngàn mẫu và ngăn cách nó với vùng đất hoang rõ ràng là còn trù phú hơn về diện tích, ở bên ngoài. Phía sau lưng hắn, cánh đồng ngô vừa thu hoạch hết bắp, như mất hết sức sống, lả đi, chỉ chờ nắng làm cháy khô hết mấy đám lá xanh nữa thôi, là cả cánh đồng sẽ hoàn toàn khịu xuống, trở thành miếng mồi ngon béo bở cho một đám lửa đỏ và lớp đất óng mỡ.

Franky tự cuốn cho mình một điếu thuốc lá. Hắn cắn nghiến một đầu trong khi đang dở tay tìm diêm quẹt. Hơi rít đầu tiên làm hắn quặn phổi. Mồ hôi và khói thuốc bết lấy mớ tóc đã ngả vài mảng muối tiêu. Chiếc mũ cờ-rích-kê kiểu Úc-đại-lợi trên đầu hắn ỉu xìu, thấm nhẫy hơi mồ hôi. Nó trở nên nặng hơn, trườn xuống, càng lúc càng bám chặt lấy bộ óc mà hắn hằng cho là ưu việt so với hết thảy đám đông mà hắn biết. Điếu thuốc rơi tàn được một nửa, thì cũng là lúc não hắn trở nên chuếnh choáng bởi hàm lượng ni-cô-tin đã quá nhiều so với khả năng hấp thụ của buồng phổi hắn trong hai năm gần đây. Nó rỉn ra một thứ dầu đặc có mùi hắc ín xuyên qua lớp da đầu, phết lên phần lót của chiếc mũ đang đội một lớp đen xì nhớp nháp.

Hắn thôi nghĩ đến những mạch máu và lớp da thịt nơi hốc mắt. Khi vứt đi nửa điếu thuốc còn lại, tâm trí hắn mông lung điều gì đó trong chốc lát, rồi thì hắn bước tới chiếc xe mô-tô dựng bên gốc cây bao-báp. Vừa ngồi lên xe, hắn liền khởi động máy, tiếng ống bô nổ đèn đẹt, nhả khói từng cụm. Hắn lao xe đi, cua nửa vòng, rồi thẳng theo con đường hướng ra phía thác Pam mà chạy tới.

Thay vì đến đúng thác Pam, hắn lái xe đến bên mép vực cách đó cỡ ba trăm mét, nơi con sông A-rút-xi-ni vẫn cuồn cuộn chảy cách cả trăm mét bên dưới, dù cho nó đã không còn thuộc địa phận của cao nguyên Mô-cátx nữa. Mỗi khi ở chỗ này, không hiểu sao, trí óc hắn luôn gợi tìm lời giải đáp cho một thắc mắc chẳng ai quan tâm, rằng tại sao con sông không thuận theo thế đất để tạo dòng, nếu xét về khoảng cách thì cũng chỉ còn mười hai cây số nữa là nó cũng sẽ tới được bình nguyên Ha-ma-quiu-lớtx bên dưới, vậy mà, nó lại đột ngột đào xuyên qua cả chục lớp đất đá, xẻ nên một rãnh sâu kỷ lục lên đến tận một trăm mười mét bắt đầu ngay chỗ thác Pam, rồi đổ hết lượng nước qua lối đó, và dù đã giảm độ cao đi kha khá, sau khi bổ nhào xuống từ trên đỉnh, những khối nước khổng lồ đục ngầu xuất phát từ chân thác Pam vẫn tỏ ra là những tay phiêu lưu vội vàng hết cỡ, bằng chứng là chúng vẫn phăng phăng ào ạt trên con đường tiến tới những vùng đất thấp hơn bên dưới, gây nên một sự huyên náo ầm ĩ cho những ai đang phải đứng gần. Nguyên nhân của sự kiến tạo địa vực sông A-rútx vẫn còn là một điều bí ẩn với tất cả mọi người cho tới ngày nay. Không có nhà địa chất học nào, kể cả người ở trong vùng, nắm bắt hay tìm hiểu được chút ít, cũng chẳng có ghi chép xa xưa nào đề cập đến. Những người già nhất còn sống trong ngôi làng Môn-rô gần đó, hay ở thị trấn A-ráp cách vài dặm mà Franky biết và đã nói chuyện, chỉ là đám con cháu của mấy tay khai khẩn đất hoang, chân tay thì mạnh mẽ nhưng lại thiếu đi ý niệm về khoa học giáo dục; đời họ không hề biết chữ và cũng chẳng lấy đó làm phiền; họ cũng chẳng phiền khi những thế hệ kế cận tiếp tục giống họ, tuy họ biết nhiều thứ đổi mới đã và vẫn đang diễn ra liên tục không ngừng. Vì vậy mà ở trên khắp miền đất cao nguyên Mô-cátx đất đỏ phì nhiêu này, không tồn tại một sự uyên thâm trí giả nào mà hắn, Franky, có thể viện cầu đến cả. Bên đống lửa, vào những đêm ngập tràn sự lạnh giá do gió tuyết từ dãy An-đétx phả xuống, những câu chuyện ôn lại giữa những người già, những lời kể cho lũ trẻ, khi mỗi người đều đang cuộn mình trong một chiếc chăn ấm có thêu những bông hoa mặt trời rộ nở, hầu hết toàn là những bài học dạng ngụ ngôn, rồi vài kỷ niệm nông nổi được thêu dệt, hòa lẫn sau đó là những kinh nghiệm xương máu của cha, mẹ họ hoặc của chính họ thời trẻ, khi vật lộn với biết bao cánh đồng, biết bao vụ mùa canh tác, khi phải du nhập mấy dây chuyền nông phẩm sử dụng máy móc hay khi so kè lợi tức với những tay thương lái xương xẩu miền xuôi.

Thật là những biểu hiện của cuộc sống tầm thường, Franky đã luôn nghĩ thế chỉ sau một thời gian ngắn đặt chân lên cao nguyên Mô-cátx và quen dần với cuộc sống mới tại nơi này. Hắn vốn chẳng ưa gì ai; ngay khi đã hiểu thấu được mọi người ở đây, cẩn thận xếp đặt từng người một vào các nhóm trên thang phân loại đẳng cấp của riêng hắn, hắn trở nên sẵn sàng thóa mạ tất cả bọn họ, vào bất kể giây phút nào hắn phải bỏ công ra để thiết lập một mối tiếp xúc ngôn ngữ thành tiếng với họ, lúc gặp nhau trên đường, lúc làm việc chung ở cánh đồng ngô, lúc sinh sống tại khu nhà tập thể dành cho công nhân nông trại của Đôn Giôn, dù cho đó có là phụ nữ, trẻ em, hay những lão già, tệ hơn nữa là những tên mọi đen và nhất là cặp vợ chồng Đô-rít. Nhưng hắn chưa bao giờ làm thế, chưa bao giờ sổ toẹt mọi ý nghĩ trong đầu hắn ra trước mặt bất kỳ ai trong làng. Hắn đến đây là để tìm cách nén chặt lại những cảm xúc có thể nói là xấc láo, hoàn toàn đối chọi với bản chất của một quý ngài như hắn. Hắn đến đây để xóa bỏ đi quá khứ xấu xa của mình. Dù từng nghi ngờ bản thân, thì cho đến giờ phút này hắn chưa bỏ cuộc. Hắn là người duy nhất nắm được cái mục đích rõ ràng cho tương lai của hắn. Thỉnh thoảng, trái tim hắn bỗng nổi cơn thèm khát. Thế là hắn phóng ra đây, dựng xe cách đúng một khoảng tám mét, rồi đi ra sát bờ vực hòng nghe rõ tiếng gầm gào vang vọng của con sông khi lao qua một cái ghềnh đá ngay bên dưới. Hôm nay, hắn chẳng trông xuống những dòng nước xối xả như thường lệ, thay vì thế, hắn nhìn quả bóng mặt trời đang bắt đầu chui vào giữa những mỏm núi sắc nhọn đằng xa và cam chịu cho chúng đâm thủng. Hắn có nên nhảy xuống, hắn tự hỏi mình vậy. Hắn từ tốn độc thoại với bản thân thêm vài ba câu nữa. Hắn liếm môi, cái dư vị ngọt ngào thẳm sâu trong tiềm thức của hắn chầm chậm kéo tới. Hắn lấy thuốc lá và giấy cuốn trong bọc ni-lông nhỏ lấy từ túi áo để cuốn một điếu thuốc mới. Khó khăn lắm hắn mới quẹt được lửa châm cho điếu thuốc giữa những cơn gió lộng vào lúc chiều tàn. Hắn tự nhủ với bản thân nhất định sẽ làm được: “.. phải quên được nó đi.”. Hắn hít một hơi dài, nhắm mắt và khởi sự công cuộc trốn chạy. “Con sông”, hắn mở mắt, “tại sao chẳng một ai quan tâm đến sự giận dữ của mày cả, ngoại trừ tao?”.

Đi đến một nơi nào đó, cũng nghĩa là sẽ xa rời một nơi nào đó

Trở về Hà Nội. Không giống như những lần trước đây nữa. Lần này, tôi không có lấy một chút cảm xúc. Tôi không còn cảm thấy yêu Hà Nội. Không còn cảm thấy yêu thành phố quê nhà. Mọi mối thương tình dù sao vẫn còn đó. Nhưng những sợi tơ vương chẳng còn mảy may rung động xao xuyến khi được kết nối lại. Tôi chẳng còn ngửi thấy mùi vị thân thuộc gắn bó con người tôi với mảnh đất này. Khi trở về Hà Nội. Tâm trạng tôi trở nên khác lạ. Đó là tâm trạng của một người Hà Nội, bỗng coi Hà Nội chỉ là một điểm dừng chân trên chuyến hành trình dài vẫn đang tiếp tục. Đó là tâm trạng của một con người nhỏ bé vốn biết rằng, việc đi đến một nơi nào đó, cũng nghĩa là sẽ vô cùng luyến tiếc khi xa rời một nơi nào đó, nhưng lại không đừng được những suy nghĩ về ngày mai, khi tỉnh dậy từ lúc sáu giờ sáng, mình sẽ khởi hành đến thành phố tiếp theo ở đâu, theo lối nào, sẽ phải đi hết bao nhiêu cây số. Đó là tâm trạng của một kẻ đã quên khuấy mất vẻ đẹp nguyên sơ của mùa thu Hà Nội qua bao năm tháng. Của một kẻ rồi sẽ bỏ lại và sớm quên đi dáng hình em trong trí nhớ. Em có biết không? Em biết đấy.

Nếu có lúc nào đó anh nhớ Hà Nội và em nhất trên suốt chặng đường đã đi qua, thì đó chính là khoảng thời gian ngồi một mình bên biển Vũng Tàu, giữa hàng dừa cao vợi, ngày cũng như đêm cố với mình tới ngọn nguồn của những cơn gió biển ngoài xa. Chẳng có ai ở cạnh. Chỉ nghe ở dưới kia, khi vạt chiều vừa buông, biển khơi ào ạt tấp những con sóng vỗ lên bờ kè, đưa đi đẩy lại nỗi day dứt mà bất cứ sinh vật nào sống trên đất liền này cũng muốn trở về bên cạnh để tìm cách xoa dịu, an yên lòng dạ của nó, nhưng cuối cùng lại chẳng có thứ gì vừa vặn khỏa lấp, mà khiến nó nguôi ngoai được cả. Mặt trời thôi lấp lánh ánh trắng lên mặt nước. Những con tàu vẫn ngậm chặt mớ mỏ neo ngoắc sâu vào đáy biển cho khỏi bị cuốn đi xa, nếu như chúng có lỡ mộng mị chu du trên chuyến hành trình viễn tưởng nào đó trong giấc ngủ ngày. Anh ngắm hoàng hôn và những dãy dài bọt sóng, dường như tỏ tường được mọi sự cô đơn của loài người trong thoáng chốc, nhưng giây phút đó qua đi rất nhanh, tựa hồ bị cướp mất. Anh rồi trở về với những ô nhịp thinh lặng mở đầu những bản nhạc buồn bã. Muộn phiền quẩn quanh khi nhìn hình bóng mọi người ngang dọc trên đường. Anh đã mong rằng mình chẳng có phương cách nào để quay lại Hà Nội nữa, giữa cái lúc nhớ em đến vậy. Rốt cuộc, anh đã muốn theo đuổi điều gì khi đọc xong lời em nhắn gửi. Để đi đến một nơi nào đó, phải chăng cũng là cần dũng cảm để xa rời một nơi nào đó. Anh có biết không? Anh thật lòng biết chứ.

ÂM 12 ĐỘ

Tự nhiên buồn buồn. Không biết nói gì. Kiếm được bài Gravity của Coldplay nghe chơi, cuối cùng lại nghiện. Giai điệu bài hát cứ kéo dài bất tận. Muốn dừng cũng không tài nào dừng được. Nó đã trở thành một hiện tượng chi phối tâm tư suốt cả cái đêm không ngủ.

Đến sáng, tìm cớ để lang thang ngoài đường: đi rút tiền, đi mua đồ, đi gửi đồ; vội vàng nhận ra là ngoài đường đông quá. Con phố thân thuộc hai mươi mấy năm sinh sống có lẻ, giờ sao mà chật như nêm, rặt toàn những gương mặt xa lạ trôi nổi giữa hai dòng chảy chậm rì của xe cộ, kẻ muốn đi ngược, người cố chạy xuôi, chẳng ai chịu ai, dù mỗi bên số phận đã được phân định rạch ròi, thì với dã tâm ương bướng, con người ta vẫn muốn gây hấn với nhau, ghìm kẹp nhau mỗi khi có cơ hội.

Đã hơn 8 tháng mình không đi làm, không tham gia vào guồng máy lao động sản xuất của đất nước, không bon chen với thời gian biểu sáng 8 giờ đến công ty, chiều 5 giờ được quyền nhấc mông chuồn về nhưng vì lý do tắc đường nên toàn cố hoãn đến 7 giờ tối mới thèm chạy trốn khỏi những chiếc màn hình máy tính để quay lại với thế giới tình yêu đầy mộng tưởng ngoài kia, khi khói bụi đã lắng xuống và trời đất không mảy may ồn ào nữa. Đây là lần 8 tháng thứ hai mình có cả một quãng thời gian rảnh rỗi vô bờ bến để cóp nhặt và thử thách từng mảnh nhỏ trong cái ước mơ to lớn của cuộc đời. Tuy nhiên, có lẽ như thế chưa đủ. Mình vẫn thất bại. Khi đứng trước H., mình vẫn là một kẻ thất bại hoàn toàn, dù cho cố gắng thế nào. Chẳng thể dứt hình ảnh đấy ra khỏi tâm trí, với mối dày vò của người thua cuộc, chính H. đã khiến mình phải tìm đến những ca từ của Gravity để nguôi ngoai đi những ý nghĩ tiêu cực chất đống trong tâm can. Suy cho cùng, có lẽ mình nên kéo dài hạn định 8 tháng ra thêm một chút nữa. Chỉ một chút nữa thôi.

Mình có một cơ hội để gây hấn với người khác, và mình đã tận dụng nó. Mình cảm thấy xấu hổ liền sau đấy, nhưng chuyện đã không thể cứu vãn. Vì thế, mình chuyển sang việc nghĩ về thời tiết và vài thứ phù du như một cách để lảng tránh tội lỗi.

Thời tiết năm nay khá kỳ quặc, nhưng lại phù hợp với sự bất ổn của toàn cầu trên mọi khía cạnh. Qua mỗi năm, mùa đông, giống như một vận động viên điền kinh ngày càng luống tuổi, chẳng còn được trợ cấp theo lối trọng vọng nữa, nhưng vẫn cố miên mải trên những chặng đường vươn tới thành phố nơi mình đương sinh sống – Hà Nội, ừ thì, nó vẫn đến được đích, vẫn khiến cho nhân dân Hà Nội phải than thở mỗi khi giá lạnh sà xuống trong đêm, nhưng mình cảm tưởng rằng nó sẽ chẳng bao giờ có được những cú cán đích huy hoàng như những năm xưa cũ. Âu cũng là thế, chẳng ai giữ mãi được vinh quang. Nhưng vinh quang lại là một thứ đẹp đẽ mà ai cũng muốn giữ. Giống như những hành tinh chẳng thể nào quay mãi. Tính tình mỗi đứa cũng khác, có đứa quay nhanh, có đứa quay chậm. Nhưng nội tại thì cái sự quay nó vốn là một thứ vô cùng đẹp đẽ, nên tất thảy, thì hành tinh nào cũng muốn quay, chúng quay quanh Mặt Trời, và quay cả quanh chính chúng nó.

Mình đang định lấy bối cảnh ở San Marino nằm gọn lỏn trong lòng nước Ý làm nơi kết thúc Đ. T. H. Và, cho dù vùng đấy ít được mùa đông ưu ái như những xứ khác thuộc vùng núi Alps, thì mình vẫn muốn nhấn chìm nó trong cơn mưa tuyết dữ dội và lạnh giá nhất mà mình biết. Mình muốn để H. trơ trọi ở đấy. Nàng sẽ đóng vai một bóng đen ma quái trên nền tuyết trắng, cứ khi đêm đến lại thảng thốt gào rú, vang thứ âm thanh não nề trần thế ra tới tận bờ biển Adria, từ sâu thẳm bên trong lòng ngọn tháp canh Cesta đã rúm ró và khô mục bởi thời gian. Mình sẽ hòa bình minh với đêm đen lại làm một. Tiếp theo, mình sẽ vặn dòng chảy của nhiệt kế xuống đúng âm 12 độ Celcius. Rồi thì, tất cả những việc mình cần làm chỉ còn gói gọn bởi hai chữ chờ đợi. Mình không biết mọi thứ sắp đặt sẽ đi đến đâu. Nhưng được cái là mình sẽ không dừng lại bây giờ.