CẢM HỨNG VÔ CỰC DỌC (H.I.)

Sáng. Dậy. Có một khoảng im ắng. Rồi tâm trí chan chứa suy nghĩ. Toàn ý tứ không đâu, chúng chảy vội vào một cái hồ. Cái hồ rộng ra. Đoàn lữ khách càng lúc càng nhỏ tý lại. Dần thì bé tin hít đến nỗi trôi tụt qua đầu xỏ chỉ của một cây kim khâu cỡ số chín.

Những ngày mới vẫn cứ nối tiếp nhau xuất hiện, giống như con mắt cứ chớp nhắm chớp mở liên hoàn. Thời gian là thế, chưa bao giờ biết mệt mỏi, đều đặn chạy những vòng quay, răm rắp miệt mài suốt năm này tháng khác. Bên cửa sổ; ngoài kia, cả khối nắng ban mai vừa kịp tỉnh giấc, bắt đầu tưới ánh vàng kim dài lê thê lên từng cái nóc nhà một. Chảo trăng sáng lóe đêm qua, đâu, đã biến mất hẳn, chẳng còn lại lấy bất cứ dấu vết nào. Những con cú đã thôi ‘cờ-rúc, cờ-rúc’ từ khỉ khi không biết, hoàn toàn kỹ càng lẩn tịt mặt trong các lỗ đen vũ trụ được giấu kín sau bức màn mây và làn da trời căng phồng cơn giông tố rồi chắc sẽ sớm đến trong tuần; chỉ có mỗi đám cành lá mảnh mai đâm xiên vào khung cửa sổ là bỗng dưng rạng rỡ cõi lòng, khấp khởi xanh rì rung rinh đón gió sớm.

Những cơn gió thôi thì cũng chỉ tạt qua mấy chốc, sau, chúng đi khuất, tất cả lại trở về với yên lặng.

Tôi nhớ những con phố. Tôi nhớ những khuôn mặt. Tôi nhớ những dãy nhà mái bằng đầy dây phơi, đầy kẹp áo, nhớ những chậu cây tua tủa cỏ mai; nhớ những mốc meo và rêu đen cháy khét lét bám kín lấy dãy gạch trơ vữa được sắp sẵn thành bờ tường của một căn nhà cấp bốn nhỏ nhắn, hoang chát vị xưa. Bóng nắng bỗng lên quá đỗi, và tôi không thể ngờ rằng cái sự đói nó có thể réo rắt tâm hồn con người lạ lùng là thế. Tôi đâu biết những đứa trẻ lang thang chúng sẽ thế nào; khi không có gì để bỏ bụng, chúng ứa ra hàng dài nước miếng ngay từ ngoài này, ngay lúc trông vô cửa tiệm người ta đang bán những đụn xôi nóng hổi, thơm ngào ngạt mùi mỡ lợn xối chảy dài như mật, và mùi vò đỗ xanh xay mịn, nắm chim, thái lát mỏng y chang mấy tờ vé số. Nhưng, thì, chúng chỉ im thít đó đứng coi thôi; một lúc; chúng nuốt tất cả mọi thèm muốn đầy đặn khổ sở vào trong cái bình chứa ọt ẹt chúng ôm chặt dưới lớp áo phông bẩn, phần nhiều rìa áo đã bị bung chỉ hoặc tơ sợi. Một lúc. Chúng như lay lắt với những chiếc rổ nhựa xếp đầy đủ mọi chủng loại sing-gum thơm miệng, mấy bao thuốc lá và những chiếc bật lửa bên góc đường; một lúc, có đứa lại thẩn thơ chơi đùa với bầy chim sâu chốc chốc lại sà từ hàng cây nào đó xuống dưới đất mổ những mẩu vụn rơi lại từ những chiếc bánh mì chẳng hề có tý thịt nào mà tất cả lũ chúng nó đang ăn. Bọn trẻ đẹp trai, da không rám nắng, chỉ bị đen vì mồ hôi, vì bụi đất và vì cái sự nước non tắm táp. Nhưng thật sự thì trông chúng tội nghiệp, khi chúng khiến cho người ta cứ phải luôn nghĩ rằng góc đường nhỏ bé ấy sẽ là ngôi nhà đời đời vận kiếp của chúng. Tôi đưa cho chúng nửa chai nước La Vie, thứ duy nhất chúng thôi từ chối, để chúng uống trôi đống bột mì; một lúc. Khi tôi rời đi thì đám trẻ cũng đã bắt đầu chuyển sang trò chơi với bộ bài giắt từ đít quần một đứa. Tôi nhìn bọn chúng nó đứa nào đứa nấy nấc cụt, bỗng chốc sướng rên trọ trẹ hoài những từ ngữ lấp lánh niềm vui chẳng tài nào tôi hiểu nổi; một lúc; lần cuối. Tôi nhớ trời xanh. Tôi nhớ biển. Tôi bỏ quên đi những cặp mắt trẻ thơ,  bỏ quên đi những nụ cười con nít.

Tôi nhớ Clo-jie tha thiết và bồn chồn, xen lẫn thói đểu giả thường thấy, khi con người ta tự nhiên nhắc nhiều về nỗi nhớ. Tôi chạy đua với Mặt Trời tới tận bờ bên kia của tinh cầu Mặt Đất. Chú Trời ta thắng; với vẻ tươi rói, chú cười đắc chí nhảy ùm xuống biển vũ trụ xả hơi hồi sức, không lãng phí lấy bất cứ một giây phút nào bùi ngùi cho tôi cả; chú ta thực tình thỏa mãn. Tôi thua và cảm giác cay đắng; nó thật tồi tệ; nỗi thất vọng lộ rõ như kiểu ra sức bóp lấy bóp để cánh hoa cúc bằng ngón cái của bàn tay phải và ngón trỏ của bàn tay trái cho kỳ được mà lại chẳng được; là rất tồi tệ, thế, tôi đi nhảy; cũng đi nhảy, nhưng là nhảy xuống vực sâu. Tôi rơi thân xác xuống một thung lũng đầy những hạt vàng và chính nhờ có chúng mà tôi chẳng chết. Bọn hạt vàng lửng lơ, lơ lửng, lưng chừng vuốt ve bắp chân tôi mỗi bước tôi đi, và cả cổ tay tôi khi tôi cố mấy lần cúi xuống thử tóm lấy một đám, nhưng vì chúng biết cách luồn trốn qua khe kẽ ngón tay rất nhanh, nên thành thử tôi toàn tóm hụt. Chúng, chao ôi thì, có mùi căn bếp cũ của bà ngoại tôi nơi xóm Dầu, rất đậm; tôi không hiểu sao; là mùi của chiếc kiềng ba chân khi bị đám củi khô ngắc sùi bọt lửa hun cháy. Tôi thường đứng đó coi bà ngoại tôi nấu ăn cho bữa trưa, chỉ khi nào tôi sớm thua sạch đống bi ve của mình vào ban sáng và trên nhà chẳng có ai chơi, thì tôi lại chạy xuống bếp coi bà tất bật nấu nướng và để hửi mùi cả đống thức ăn thơm phức mùi hành; đủ loại. Tôi đứng bên chiếc rương gạo đặt trên nóc một cái bể vôi ở góc bếp mà ngóng nhìn các thanh củi từ to đến nhỏ biến mất hút vào trong lòng chiếc kiềng sắt, chỉ còn lại bụi tàn lép bép bay ra, và cảm xúc tựa hồ vô cùng thích thú. Rồi cả những mũi lửa ấm nóng và đôi chút điên rồ nữa chứ, chúng cào cấu những cái đáy nồi đen đặc, thỉnh thoảng bùng lên, đâm xiên lên thành nồi, khiến bồ hóng chảy ngược từ đít nồi lên tận nắp. Cứ thế, chúng biến ra một thứ sống động nhiệt thành, một ngọn nguồn mà từ đó lan tỏa biết bao mùi hương; mùi củi mục, mùi mùn cưa, mùi gỗ bào, mùi của những miếng thịt dày bì sôi trong mỡ, mùi của chiếc nồi gang, mùi của bàn tay bà, mùi đũa cả, mùi tường vỡ và mùi chiếc kiềng sắt; những thứ mùi nồng nàn của căn bếp cứ thế quện đi quện lại với nhau thành một vết dài trong dòng ký ức.

Bọn hạt vàng, chúng, kìa, cũng đang nhảy nhót như những ngọn lửa đỏ trong căn bếp cũ nay đã không còn. Hỡi ôi, chúng dường như bị phấn khích bởi hình dạng hai cái đầu gối của tôi hay sao ấy mà liên tục nhảy lên hòng va, chạm, húc, tông, rờ, bắt được vào hai đứa nó. Chúng nhảy lên từ lưng chừng không khí, mà không cần lấy một điểm tựa; như thể có một chiếc đệm hơi trong suốt hoặc vô hình cứ sóng sánh dập dềnh đưa đẩy chúng bắn lên từ bên dưới bằng thứ lực đàn hồi vô cùng dễ chịu; thật buồn cười. Sự phấn khích đó như một thứ tín hiệu mời gọi nhanh chóng lan tỏa ra khắp xung quanh. Bọn hạt vàng ở phía xa bắt đầu nô nức kéo tới. Chúng nhảy, tạo thành những cơn sóng nhẹ. Mỗi đợt, mỗi đám hạt vàng như thế tạo nên một lớp sóng, lớp này đuổi theo sau, chồm lên lớp khác; bọn hạt vàng này thuận theo đà nhảy lên trên bọn hạt vàng khác; những con sóng bé tý ban đầu gợi lăn tăn như mặt nước những đêm trăng tỏ dần biến thành những con sóng vừa vừa, rồi chúng trở nên lớn hơn nhiều khi đến được gần chỗ tôi đứng. Tôi, lúc ấy thì, như một hòn đảo hoang trơ trọi giữa biển trời mà tám phương bốn hướng đều có những đợt sóng là bọn hạt vàng ào ào xô tới. Bọn hạt đến sau lũ lượt chen lên bọn đến trước, đẩy hằng hà sa số bọn đến trước nữa xuống phía dưới, càng lúc càng sát hơn với mặt đất. Chính lúc ấy, tôi bắt đầu nghe thấy những tiếng lụp bụp nhỏ, kèm theo sau đó là những sợi ánh sáng leo lắt chui lên từ phía dưới lòng đất, xuyên qua những lớp hạt vàng bên trên và chui tọt vào vũ trụ. Rồi những tiếng lụp bụp trở nên rõ ràng hơn, chúng không chỉ đến từ dưới mặt đất mà còn xuất hiện ở trên không, ngay giữa những con sóng; không phải, chính xác là ở giữa những chỗ mà hai con sóng hạt vàng đến từ hai ngả va mạnh sườn vào nhau. Tiếng bụp nhỏ, tiếng bụp to, nổ rền như tiếng bắp rang bơ đang chiên trong lò vi-ba. Tôi thấy lần lượt bọn chúng: một hạt, hai hạt, …,  rồi nhiều hạt nữa, cả ở gần, cả ở xa, ở tít xa, bỗng nhiên khựng lại giữa dòng chuyển động của các con sóng, ngay giữa không trung, liền đó thì tự biến đổi. Bọn hạt vàng ấy, chúng rung nhẹ, trương mọng lên từng khắc một rồi phát sáng y như bụng của con đom đóm; rồi khi bọn nó to đến cỡ hạt sen và rung lắc dữ dội nhất thì nhất loạt nở bung ra, những sợi sáng giấu kín bên trong văng đi kéo thành những vệt sáng lóa, gấp khúc trắc trở như sọc chớp nhá hình trên nền trời đen kịt lúc đêm giông. Một, hai giây sau,  bọn sợi sáng ấy thay phiên, nối tiếp nhau tót phát nhảy ngược lên phía tầng không, từng mét, từng ki-lô-mét, rồi hàng trăm ki-lô-mét, thậm chí hơn nữa, hàng trăm nghìn ki-lô-mét. Mục tiêu của chúng, phía cao trên kia, thôi, đã quá rõ. Chúng thực tình muốn vươn tới những ngôi sao xa xăm cách Mặt Đất đến cả triệu năm ánh sáng trong biển vũ trụ tăm tối kia ư. Tôi bàng hoàng bởi cảnh tượng kì ảo đó, bàng hoàng bởi những ước vọng của bọn hạt vàng sau khi, có thể là thế chăng, chết đi ấy. Bọn hạt vàng, chúng chẳng ngần ngại chạy đến, đuổi theo niềm đam mê nhất thời, dù cho có phải, ừ, tôi sẽ gọi nó là, hy sinh. Và dù cho có phải hy sinh, chúng cũng không hẳn thất bại. Chúng chỉ là không ngừng di chuyển. Chúng luôn có một cái gì đấy để theo đuổi, lúc này hay lúc khác. Chúng cũng đi nhảy, thế, nhưng sẽ nhảy đến nơi trái tim cùng tình yêu của chúng tồn tại.

Hân bỏ chiếc túi xách lên bàn ở một vị trí hơi xa với chỗ ngồi, và nhờ Rem pha cho em một cốc sô-đa lạnh; em nhìn quanh, rồi quay lại đáp lấy ánh mắt gợi chuyện của Rem với một nụ cười chết khát. Không khí hội quán hôm nay khá trầm tư và, chút gì đó u uất; theo lịch thì là đến buổi của S., nhưng cậu ta từ hôm trước đã phủ quyết quyền chủ trì mọi hoạt động, vậy nên mọi người quay qua làm những việc thường ngày còn dang dở; ai cũng chú tâm hết sức với tác phẩm của mình nên chẳng nói lời nào với nhau suốt hai tiếng rồi. Những khối suy nghĩ chất chứa sáng tạo đam mê cũng vì thế mà được sản sinh ra không ngừng, bao trùm lên khắp các góc tường và cả sảnh ‘sân khấu’. Riêng tôi thì lại thu lu ở cái chỗ một bên là chậu hoa mười giờ, hiện tại chỉ toàn cỏ lác sinh sôi, còn bên kia tất nhiên sẽ có một chiếc bàn nhỏ, để đọc báo. Chẳng phải là tôi muốn dò xem mấy bài viết đã gửi lâu lắc của tôi có được đăng không, mà chỉ thuần túy coi tin tức. Tôi đọc qua hết tất cả những trang báo cũ, cách đây mấy tuần, rồi thậm chí là hằng tháng trước, nhưng không có lấy một mẩu tin nào tôi muốn thấy. Cả một năm qua thú thực tôi ít xem báo hay các kênh truyền hình, nhưng chí ít cái tin tôi muốn thấy, nếu mà có, chắc chắn nó phải là một tin giật gân sẽ khiến mọi người bàn tán không ngơi; hiển nhiên, tôi cũng sẽ không bỏ sót thông tin nào như thế. Vậy mà… Tôi đang mải nghĩ vài thứ liên quan đến Franky, thì Hân tới đặt cuốn Vietnamese Costumes through the Ages xuống mặt bàn. Tôi nhìn lên thì chỉ kịp thấy em nhún vai một cái rồi bước trở lại chỗ quầy bar. Định nói với theo câu cảm ơn em đã cho mượn mà lại thôi, tôi cầm quyển sách lên, giở lấy vài trang, ngắm nghía những bộ trang phục từ xa xưa tới thời cận đại của người dân mọi miền trên đất nước mình. Hình ảnh của chúng trong sách đa phần sắc nét, kèm mô tả chi tiết chất liệu, đường may, đôi khi có bổ sung ý nghĩa hoặc diễn giải một vài dữ kiện văn hóa lịch sử gắn theo làm tôi phút chốc trở nên hứng khởi mà quên mất đi những ám ảnh giết chóc tồn tại trong đầu lúc nãy. S. hình như đang để ý tôi, nhưng khi tôi quay sang thì cậu ta lại cắm cúi viết. Có một cuộc gọi đến hội quán, chiếc Oa-phen 48 đời cổ lỗ sĩ của Đức đặt ở góc trái trên mặt quầy bar kêu leng reng náo động mấy hồi liền không dứt; thường thì nhóm chúng tôi chẳng bao giờ ngóng chờ bất cứ cuộc gọi nào đến đây cả: chiếc Oa-phen ấy chuyên dùng để gọi đi, chuông chỉ đổ vào những lần Rem hoặc M. gọi thử để kiểm tra một cách máy móc rằng chiếc điện thoại hẳn vẫn hoạt động ngon lành; và theo truyền thuyết tôi được nghe kể, lần đổ chuông có nghĩa duy nhất mà nó thực hiện thành công đã xảy ra cũng lâu lắm rồi; đó là khi tay cung cấp rượu đời đầu tiên cho quầy bar gọi đến để giới thiệu một loại rượu mới từ Phần Lan mà gã đó vừa kiếm được nguồn cung và bắt đầu đứng ra phân phối. Có thể đây sẽ là lần có ý nghĩa thứ hai chăng; anh chủ xị của hội quán tên M. phải đợi đến hồi chuông thứ sáu mới chạy ra bốc máy chào hỏi, trong khi vẫn đeo nguyên đôi găng tay nặn tượng, nhưng rồi đầu dây bên kia chẳng lên tiếng. Được một lúc thì M. cúp máy và lầm rầm ra vẻ bực mình trên suốt quãng đường quay lại đằng ‘đảo dừa’. Chẵn mười phút sau, chiếc Oa-phen lại leng reng âm sắc của tiếng chuông điện đã han gỉ bởi không khí ẩm thấp từ đợt xuân thì đầu năm. Tiếng chuông đôi phần bất chợt khiến ngay cả Hân cũng phải nhíu mày. Lần này chuông reo đến lần thứ hai thì Rem đã bắt nghe luôn, giả tiếng “A-lô” tò mò và bình thản. “Ha-lô…”. “Alors?”. “Moshi-moshi!”. “Chịu”, Rem hắng giọng hồi đáp cho Hân, tôi, và S. biết sự tình; tôi cũng nghĩ là sẽ lại vậy thôi; Rem bỏ ống thoại đặt cái cạch về vị trí cũ, kèm một tiếng ‘tinh’ rất nhỏ ngân theo. Từ lúc đấy, tôi cứ nghĩ tiếng chuông sẽ tịt hẳn, thì cho gần đến giữa trưa, đợi ngay lúc P. rời khỏi ‘xưởng bạc’, chiếc Oa-phen-sờ-prếc-sơ đời mã 48 của cụ cố Hít-le tiếp tục réo vang lần thứ ba. P. vừa khép xong cánh cửa, bất chợt hoảng hồn vì thấy mọi ánh mắt đều đang đổ dồn như tưới keo dán vào mình:

“Sao cơ?”.

P. cúi xuống chỉnh lại nếp chân váy bị cuộn lên tý chút.

“…!?. À,”, sau thoáng chốc vẫn băn khoăn, P. như sực hiểu ra điều gì, bước đến góc quầy bar đưa tay chuẩn bị nhấc ống nghe lên. “…, này, các vị thật quá đáng đấy nhé. Tay vẫn còn run này.”.

“A lô, Hội quán Rívièr xin nghe.”

“Vâng”. “Franky sao?”. “Được rồi. Chờ chút nhé anh.”.

“Đây. Có một nàng Franky nào đó đang chờ. Mà cô ấy lại chẳng biết tên người muốn gặp là ai, lạ thật, có anh nào muốn tâm tình với Franky không em làm mối cho nè.”, P. cười bông lơn với cả nhóm, xong quay qua Hân nháy mắt ra vẻ ám hiệu, rồi đưa ống nghe hướng ra phía đó, như thể cuộc gọi là cho Hân vậy.

“Không. Là của anh.”, tôi đành lên tiếng trước khi Hân miễn cưỡng bỏ cốc sô-đa xuống. Nó gọi đến đây ư. “Là Franky hả?”.

“… Thật đó?”, P. ra chừng ngạc nhiên, tuy có hơi xuôi xị và giả vờ tỏ nghi ngờ nhưng vẫn đưa ống nghe cho tôi. Có lẽ đúng là thằng Franky đã bảo nó không biết tên người muốn gặp. Thế cũng phải. Mà sao vẫn xưng cái tên cúng cơm Franky với người khác, chắc chắn còn thể hiện bằng chất giọng bỡn cợt như dầu lanh, hoặc cay buốt và sâu hoắm giống một cái hang băng ở Kỷ Đệ Tam đặc trưng nữa, nó không hề mà cũng chưa bao giờ ‘phải’ lo đến việc rồi người ta sẽ nhận ra mình thì phải. Nghĩ đến đấy, tôi tự dằn lòng đừng có mà cảm thấy sợ hãi thêm chút nào nữa trước khi nói hay nghe thấy bất kỳ điều gì trong chục giây kế tiếp.

IJKL

Dong mắt qua giò hoa tử đinh hương tím ngắt, phía bên kia lớp cửa kính là cả thành phố yên bình và có nắng nhẹ. 9h sáng, nhìn xuống dưới, gió không ngừng thổi, xao xác từng cành cây cụm lá, chỗ thì xanh thăm thẳm, chỗ lại mơn mởn những khóm chồi xanh non ngơ ngác. Trời ơi, chẳng phải con người ta cảm thấy đau khổ nhất chính là khi bị người khác đấm cho gãy mũi hay sao. Tuy thực sự nó không hẳn là gãy (nếu ám chỉ về khía cạnh xương xẩu), mà chỉ là một chút sự sai lệch của các mô sụn khiến cho hình dạng sống mũi nghuệch ngoạc, bớt thẳng thớm hơn nhiều so với lúc bình thường thôi. Nhưng mà cái dị tật ấy sẽ đeo đuổi số phận ta đến hết cái cuộc đời này. Hết cái cuộc đời này cơ đấy. Nhìn vào khuôn mặt phản chiếu phần nào qua tấm kính trong, vết gãy hằn lên nỗi sợ hãi, dù nhỏ nhoi – có lẽ khoảng một phần nghìn giây – thoáng hiền hiện lên tấm màn vô thanh của ký ức. Hơi thở tù túng phả đọng trên bề mặt kính, khiến cảnh vật trở nên trắng xóa, khô tanh, mờ ảo. Đẩy chiếc cửa sổ trượt sang bên; một cơn gió mạnh và buốt giá thốc thẳng vào phòng, làm tung bay rèm treo. Tôi lò dò thòng hai chân qua thành cửa, rồi cứ thế bám mình ngồi đó vắt vẻo trông chờ điều kỳ diệu của mùa xuân.

 

Đám người đứng dàn ngang đằng sau dãy lưới sắt đan mắt cáo là một đám chết rồi. Họ lặng im và dường như không còn hồn phách; như thể họ đang đứng lơ lửng ở giữa thinh không, giữa trời và đất, rồi bỗng chốc tâm trí ngắt phụt, để mặc thân xác cứ thế bị mặt đất hút xuống dưới một cách bạo liệt. Họ chờ một tiếng “Bịch!” gọn ghẽ vang lên. Cú húc tàn khốc vào lớp sỏi đá cứng ngắc sẽ khiến họ lìa đời ngay trong khoảnh khắc. Không có lấy một ai cảm thương cho họ cả. Ở bất cứ nơi nào chiến trận diễn ra. Vận mệnh con người rồi lại thành muối bỏ bể.

 

Tết và sau đó là chuỗi ngày tháng thường nhật chòng chành sóng sánh. Mọi thứ đến quá nhanh và đi cũng thật quá nhanh. Những bộ phim không dàn dựng. Không chịu chi phối bởi bất cứ tay đạo diễn nào. Cứ thế chiếu. Mọi người hòa trong cái nhịp diễn vô thường đó nhưng đều không biết là mình đang diễn. Họ diễn không có sự chỉ dẫn, không phân cảnh, không nhận biết được đâu là góc máy đẹp, rất nhiều cung bậc cảm xúc, vô cùng tự nhiên, mà phần nhiều thô tục. Nhưng trên hết, bất ngờ là họ lại đang diễn theo những kịch bản đã có sẵn. Cứ như là họ biết nó, sâu trong tiềm thức. Những mô-típ xã hội kinh điển mang đặc điểm giống nòi – ý ở đây hẳn là ám chỉ về cuộc sống bầy đàn của lũ khỉ rừng, lũ tinh tinh, lũ vượn; xa xôi hơn là lũ ngựa vằn, lũ cầy hương và lũ hổ đói – được họ kế thừa từ trong trứng nước, đẩy họ vào chuyến du hành xuyên thời gian từ lúc còn là đứa trẻ sơ sinh được bồng bế, được âu yếm rất mực; cho đến khi lẻ loi đơn độc tuổi già. Tôi cũng đã diễn. Được chừng ấy cuộc đời, cho đến lúc tôi 22 tuổi thì tôi biết là mình đã diễn. Lang thang phố khuya, những góc xó xỉnh, lúc 22 tuổi, chỉ có tiếng chân bước nối tiếp tiếng chân bước, cuộc đời chưa định hình, tâm trí mới chỉ dấy lên mơ hồ một nỗi ám ảnh mang tên Kafka và con Quạ, những cơn mưa cá và đỉa, một ông lão mèo (mà sau này tôi liên tục quên và nhớ nhầm tên thành Ushikawa – một kẻ chết trôi dị hợm ở “1Q84”), và gã đại tá Sanders dẩm dít gà quay hay mì xào bò gì đấy. Lúc tôi 22 tuổi, chỉ còn vỏn vẹn hai ngày nữa là hết năm, khi mọi người đã chuẩn bị được khá nhiều thứ cho năm mới sắp sang, cho đêm giao thừa, huyên thuyên hết trong nhà ra đầu xóm, thì tôi quyết định đánh liều đi bộ một vòng.

 

Tôi đi bộ đến lúc 24 tuổi thì trở về với thực tại. Hà Nội chưa bao giờ và cũng sẽ không bao giờ đẹp nhất về đêm. Hà Nội chỉ đẹp nhất khi con người ta cảm thấy trống vắng trong lòng. Khi con người ta không còn ai để nghĩ về nữa; khi tôi bỗng dưng tìm ra được chân lý là bản thân mình hoàn toàn có thể điều khiển được đôi chân của tôi đi về/hướng đến bất cứ nơi nào mà tôi muốn. Khi đó, tôi bắt đầu diễn cho mọi người nhìn. Tôi diễn và soi xét mọi phản ứng nếu có của họ. Giống như việc theo dõi một cách chăm chú, ngưỡng mộ, không chút dè chừng những phương trình hóa học mà được trình diễn thực nghiệm ngay tận sát mắt. Nó hồi hộp, ẩn chứa bất ngờ và đau đớn y như khi tôi vô tình thở mạnh vào một đám ni-tơ tri-i-ốt-đít để rồi bị bay mất cái chóp mũi của mình ngay sau đó vậy..

 

Vào một buổi chiều nắng đơm ngoài bậc cửa, tôi bảo Hân: “Em có biết là em đẹp lắm không hử Hân?”. Nhưng có vẻ lời nói đó không khiến em quan tâm cho lắm; em chẳng đáp lại, mà hình như cũng có thì phải, em có mấp máy môi rì rào mấy từ ngữ lẫn vào tiếng gió trào qua khe cửa sổ không đóng chặt, đúng vào khoảnh khắc tôi hết kiên nhẫn chờ đợi câu tiếp chuyện của em mà ngoảnh mặt đi, thế nên là tôi chẳng nghe rõ hay lưu tâm gì cả. Hình ảnh khuôn mặt em đang đau đáu với những đường cọ dài, chốc chốc cứ thập thò lấp lánh sau chiếc giá vẽ cũng chỉ vội sượt qua ý nghĩ nào đó của tôi rồi biến mất. Thực ra bất kể khi nào em bộc lộ niềm say mê của mình; khi em ăn, khi em uống, khi em đứng trên vỉa hè, khi em chỉnh từng ly váy cho khoảng cách giữa chúng đạt độ hoàn hảo mới thôi, khi em khắc họa người ta trên lớp giấy can-sông âm ẩm toàn là màu bùn đất với màu than đá, còn tóc họ thì có màu như thứ tảo đỏ chết trên những rặng san hô ngoài biển ấm, khi em chìm vào một bức ảnh phim ố màu thời gian; thì em trở nên tuyệt đẹp hơn hết thảy. “Hân, chứ em tự thấy mình đẹp nhất ở điểm gì?”. “Là tâm hồn anh ạ.”. Nắng cứ ngả đều ra khắp sân trường, đổ lên cột đá. Tôi rời bậc thềm đi dạo với lon nước đã thôi sủi tăm trên tay. Hân đang mải tìm tuýp màu nước đâu đấy; còn tôi thì chợt thấy chán ghét mình da diết.

 

Bên cạnh thế giới tôi sống và tôi biết, là những thế giới tôi không biết và những thế giới tôi quên khuấy. Tôi xuống xe, gác chân chống. Chẳng thể nhịn hơn. Đám hoa xuyến chi bên đường trở thành nơi tòm tem công cộng bất đắc dĩ của tôi. Trong lúc tôi thả ga thì mấy cánh bướm trắng vẫn dập dờn chẳng biết sợ. Tôi để ý đến chúng từ nãy kể từ khi rẽ vào lối này, tôi cứ nghĩ chúng đã tuyệt chủng từ thời xửa xưa. Nhưng rốt cuộc chỉ là thế giới thành phố đã mất dần đi nhiều thứ mà thôi. Tôi ngồi bệt lên thành cầu, có con rạch nhỏ lắt léo dẫn nước bên dưới, ăn bánh quy tẩm đường tôi mang theo trong ba-lô và uống một ngụm nước nhỏ. Tôi chẳng biết nói gì về đám trẻ con hồ hởi đã đón chào mình ở đầu chỗ ngoặt rồi. Lũ nhóc tỳ tưởng tôi là người ngoại quốc gì đó, cứ xí xớn ra đập, bám tay, “hi.”, “hello, how you.” đủ kiểu. Có đứa con gái còn trịnh trọng “good morning vietnam” khiến tôi ngẩn ngơ mãi đến tận ráng chiều. Tôi lấy sổ, bút, kiếm một trang trắng, vẽ ra hình lá cờ. Tôi họa duy nhất một hình tròn trên lá cờ, rồi sột soạt tô gần kín nó bằng nước mực Iroshizuku thần thánh của mình. Tôi giơ ra trước mặt chúng, ‘điềm đạm’ nói, “the sun. Sun”, tôi chỉ; tôi còn trỏ ngược lại cả mặt trời đang treo như quả đèn nê-ông sáng chói trên kia: “sun”. “Japan. I’m. japan.”. Tôi vừa gắng nói, vừa nguệch ngoạc thêm dòng chữ y thế dưới lá cờ; sau rốt khi hoàn thành thì tươi cười giựt trang giấy ra khỏi phần gáy lò xo và đưa cho đứa lớn nhất ở đấy: “good morning vietnam”. Tôi chỉ tiếc mình đã không có bịch kẹo nào.. Tôi tư lự một mình dưới nắng chiều chói chang, chuyển hướng băn khoăn ngẫm nghĩ không biết khi nào làng quê Việt Nam sẽ không còn những lứa trẻ con da ngăm, loắt choắt, mắt láy như hột nhãn ấy nữa. Chúng sẽ ra sao và trở thành gì khi lớn lên. Những ngày sau này, chúng có như bố mẹ, anh chị chúng, tiếp tục ném đầy những túi ni-lông rác ra bờ nước này nữa không? Thế giới làng quê rồi sẽ chất đầy những bãi rác thải dân sinh. Tôi hớp nốt một ngụm nước to, vặn chặt lại nắp bình, gá vào gióng xe dưới..

Jenny

Kể anh nghe đi, những điều em nghĩ;
Em giấu kín lòng câu chuyện tình xa.
Hãy vẽ ra đây những nét mây tà,
Trăng tròn chặn cửa khuyết nửa hồn ta.

Kể anh nghe đi, cái nơi em sống;
Mọi nỗi buồn phiền em đã bước qua,
Những ngày không anh, thành phố còn lạ,
Ngược mùa lá rụng tới mùa chim bay.

Kể anh nghe đi, điều gì thật hay
Khiến em nhớ đến lúc chăn vừa kéo.
Anh vẫn muốn nghe cô nàng nhõng nhẽo,
Dở cười méo xẹo giận dỗi người thương.

Hãy kể anh nghe, ngoài đường khi sương,
Mặt trời lẩn khuất đằng sau vòm lá,
Em học bài muộn, đêm dài ngả tắt.
Sau ô cửa vuông bút viết đâu ngừng;

Nói cho anh nghe, em sắp trở về,
Trái tim đầy đặn những niềm say mê.
Trên triền đê nhỏ, bông lau tan suốt;
Sóng chán anh rồi, thương nhớ em thôi.

Đng

Nàng đi điệu đà, váy bó eo
Mờ tưởng nhân hôn, lơ ngó theo
Bên đường túy tử màng thân ái
Nhếch cười ngang dặm vận phàm đeo

Thênh thang sầu phố đèn chẳng treo
Ánh trăng chớm xuống, đêm nuốt vèo
Bóng hình như nữ mềm tiếng gót
Lạnh lẽo dải đường mưa sương reo.

***

Một cọng lá vàng vừa rơi
Mùa đông bỗng tỏ thương tiếc
Run rẩy đưa cơn gió khẽ
Nhẹ cuốn đi những lụi tàn

Đung đưa ly cà phê đắng
Giọt buồn chảy ngược vào trong
Hơi đá lạnh buốt phả sương
Hờ hững đan cài, cuộn rối.

Có giây phút nào bỏ quên
Lặng lẽ ôm chầm kỷ niệm
Vung vẩy nỗi sầu vô cớ
Quèn quẹt.. lóng lánh đuôi mi

NGỒI NGƯỢC SÁNG

Ảo ảnh và thơ mộng. Bạn bị làn khói ấy làm choáng thị giác. Lóa. Những khối đen. Những cái miệng. Những cái bóng đổ dồn về đây. Những cử chỉ như chim chích chuyền cành. Những cành cây kiểng không hoa. Phía sau, những chiếc ghế ôm lưng. Phía trên, tóc lơ phơ. Phía trong, vô vàn là tình thương trìu mến. Mặt bàn, phê phủng nổi bọt. Dưới chân, mặt trời rơi bay tí tách. Cái đám đông ngược sáng ấy. Trẻ. Bầy đàn. Lạ. Có đôi chút đồi trụy. Thật ra là rất đồi trụy. Nhưng mà đồi trụy nó cũng đã thành một phần của cuộc sống, từ lâu lắm rồi; ở cái đất nước phương Đông hàng ngày vẫn lục đục tiếng búa nhà ai vang vọng này. Khi bữa sáng đã xong, nắng hửng lên muộn mằn, thì cho tới tận trưa, mọi người vẫn không ngừng í ới nhau tìm một chỗ sưởi ấm trong tiết trời lạnh buốt. Những nan quạt nhanh chóng xòe ra phố, chắn lối bộ hành. Lòng đường vi vút bánh xe, vi vút tay lái. Nắng chiếu xiên. Cọng cây bé tí teo. Chẳng thể chắn nổi. Những mái đầu nhấp nhô. Rồi chúng thôi nhấp nhô. Chúng thôi mất nhịp điệu tung tẩy tươi tắn nảy nở trong mắt người ta. Thay vào đó chúng chỉ đung đưa nhẹ nhàng hiền dịu (mà nhẹ nhàng hiền dịu thì thật là buồn chán cho hơi thở). Rồi dần dà, chúng tan quấy vào nhau thành một tấm rèm khô khan, nặng trịch rũ bên cửa sổ mùa hè lúc sáng sớm tinh mơ mờ mờ. Chúng chiếm lấy nguồn sáng rồi trả lại phía đằng đó bóng tối. Bạn nhìn vào chúng, thấy đen kịt. Ấy vậy mà, thôi thôi chỉ lệch một tẹo chút thôi thôi, tim bạn bị chói, tâm hồn nhức nhối, và miệng bạn nhăn nheo lẩm nhẩm câu cửa miệng. Đồi trụy.

Ngắm nhìn mọi người sống. Ở bất cứ đâu. Cũng trào lên một cảm xúc. Một câu chuyện muốn kể. Thành phố đông quá. Đi vài bước là đã chẳng còn quen ai. Những con người trước mặt. Những con người sau lưng. Mờ nhạt tráng rọi thành những tấm hình đen, trắng. Rất nhanh lướt qua miền nào đó của ký ức.

Số phận chúng ta thật nhỏ bé, phải không Hân? .. Trời đã hết những ngày mưa dai dẳng. Hân, hôm nay nắng. Vui mắt và không khí chẳng còn lạnh. Chiều chủ nhật. Những chuyến xe tỉnh, phả bụi khói trên quốc lộ. Khách bắt xe đứng tụm chỗ này chỗ kia. Hành lý là chiếc ba-lô đeo lưng hoặc túi kiểu thể thao xách tay. Họ dựa vào dãy rào chắn ngăn cách con đường với đồng lúa xanh xanh và dải đường sắt tít tắp. Những miếng mít thơm hương nắng, vàng ươm. Những thùng xốp bánh mỳ bọc trong chăn ấm, tía đỏ hoặc xanh bà ba có điểm những bông thược dược tươi rói, cứ ba bốn nhịp rào chắn lại có. Thơm ngậy, ấm nóng hôi hổi. Những người phụ nữ đã mấy lần con cái, đội nón, chít khăn, hoan hỉ ánh mắt nghe tiếng xe dừng bánh. Những chồng ổi vừa buông cây dậy mùi rốp ráp, tròn trĩnh trong nắm tay ôm. Chúng lộn vòng vòng giữa người bán, người mua. Đôi khi chúng được người ta lột vỏ và đưa lên miệng cắn để thưởng thức ngay luôn cái vị chát chúa của ổi xanh còn sượng. Những hình ảnh đó – Tất cả đều thật đẹp.

Giản đơn và hài hòa. Con đường nhỏ nhắn chảy ngược từ cổng vào sâu bên trong làng. Những ngôi nhà thấp, mái bằng. Lùm cây xum xuê lấp đầy khoảng không phía trên những bờ tường không quét vôi, không có những con số. Trẻ con chơi đùa, đạp xe và ăn ngô nướng chuyền tay. Chúng có nhiều nét màu sắc phảng phất bối cảnh những năm 90 của lũ trẻ thành phố. Chúng cười, răng trắng bóc. Chiếc ao làng rộng, xanh rêu và đầy bèo tấm dạt bám quanh mé cầu ao. Có người đang quăng cần kiếm cá. Một con mương với làn nước tĩnh lặng. Một cụ ông hứng khởi đạp xe qua năm cái xã để đi thăm bạn già. Một chiếc xe máy phóng nhanh chẳng thèm để ý. Một chiếc công nông đi ngược chầm chậm nhấn nhá ục ục. Con đường dài. Đi miết rồi đến chợ. Chợ họp ngay hai bên đường cái. Huyên náo. Tay gà, tay vịt. Chậu cá. Hàng rau. Quầy lợn, quầy bò. Người xách, nách mang. Người tay nải, chần chừ gợi giá. Chẳng ai ngơi tay. Chẳng ai kín miệng. Mọi người ở đây thấy mặt nhau là đã kháo lên đủ thứ chuyện rồi, bằng cả cử chỉ lần tiếng nói ồn ã. Chợ phiên, ngày chiều. Không ai vội. Người ta vốn có nhiều mơ mộng, chỉ vừa kịp lúc này để thỏa ra trước khi nhóm lửa cho bữa tối mà thôi.

Hân. Chẳng còn mấy nữa. Đợi một ngày chuyển mùa. Đợi Hà Nội lúc nắng lúc mưa đỏng đảnh y như con gái.

Ảo ảnh

Phố xá ướt. Mưa rơi thật nhiều. Em ngồi một góc. Ủ ấm thân mình bằng chiếc áo bông dày. Uống một cốc sữa nóng. Lặng thinh nhìn ra ngoài đường qua lớp kính ngăn. Một chiếc lá vàng rơi se sẽ. Em đưa mắt nhìn. Chiếc lá rơi chạm vỉa hè. Nằm đó mãi. Cho đến tận lúc em quệt váng sữa trên môi và nói muốn ra về. T. cũng về cùng. Mưa chấp chới không ngừng.

Cà phê hòa tan có một vị ám ảnh. Tôi nhìn theo em. Cười lấy lệ và giơ tay chào khi em ngoảnh mặt lại, nói tạm biệt thêm một lần nữa. Có những câu chuyện chẳng bao giờ nên kể. Dù cho chúng là những câu chuyện có thật. Tôi lấy giấy, bút. Tưởng tượng như mình đang ở dưới ánh trăng, còn tiếng mưa là tiếng sóng. Đây là căn lều, được chiếu sáng bởi cây đèn pin vứt góc. Trời đang đêm. Em ở ngoài kia. Chăm chăm ngắm sóng một mình. Không thầm thì mà cũng chẳng suy nghĩ. Còn hắn ở trong lều, váng vất mùi sữa nóng em đã bỏ lại một ít trong chiếc ca nhựa, ngồi tựa mình lên chiếc túi ngủ còn đang cuộn chặt, đọc “Những du khách trên sông Đa-nuýp”. Cuốn truyện thuộc loại bỏ túi, tinh gọn rất vừa tay. Hắn đau đáu với đam mê bất tận của mình trong những trang sách. Chẳng có lấy giây phút nào lo sợ rằng em sẽ bỏ trốn. Đêm đen kịt, lạnh tanh và hung hiểm. Vốn dĩ em đâu có đủ can đảm thế, để chạy trốn hắn vào lúc này cơ chứ. Hắn luôn biết rõ em; và hắn đúng. Khi đã muộn, em trở lại lều, như đêm trước, lấy cho mình chiếc túi ngủ màu xám, co mình vào giấc mơ nào đó em cần phải mơ để quên đi tình trạng lúc này. “Muốn nghe chút tin tức không?”. Hắn nói. “Có thằng điên nào đang tìm em đấy.”. Hắn đẩy chiếc radio cùng tai nghe sang cho em. “Mấy bản tin thì chẳng có phát lại đâu.”. Hắn kết lời, ra vẻ quan tâm. Em quay người lại, chân duỗi ra khi hơi nhổm mình dậy khiến đuôi cái túi ngủ quàng lên che mất chiếc đèn pin cùng toàn bộ ánh sáng trong căn lều. Hắn nhún vai; mất đi nguồn sáng rọi, hắn chẳng đọc được nổi một chữ nào từ quyển sách, liền ngẩng đầu, nhìn em giễu cợt. Cả hai rơi vào im lặng trong một lúc lâu.

Tôi đứng dậy. Ra quầy thanh toán, sau đó về thẳng nhà. Điện bật. Cõi lòng mông lung và ngơ ngác. Rồi thì tiếng dương cầm lanh lảnh, đều đặn nhảy nhót dưới ngón tay. Những con người đi qua tôi, mỗi người để lại một niềm suy nghĩ. Em đi qua tôi; đong đầy khối tâm tư.

SỰ PHỦ CỦA NGÔN NGỮ – VẬT CHẤT HAY Ý THỨC CÓ TRƯỚC – CON NGƯỜI VĂN MINH TỚI ĐÂU

Cuối năm. Thời tiết lạnh. Bao lấy mọi thứ trong một màu sương giá. Khung cảnh rực rỡ mùa hè hay vàng óng của mùa thu nay chỉ còn giản dị hai màu đen và trắng. Ôi, mình thích những con phố mới sớm dậy, vẫn còn đang cố bám giấc, khe khẽ run thân hình cứ mỗi đợt gió lùa qua. Ở đó, sự chậm chạp của thời gian tưởng như có thể đông cứng cả cái kim giây của đồng hồ lại được. Ôi ôi, vài ký ức trở về. Mặt đường này thì đen. Vỉa hè kia thì trắng. Thân cây thì như than nhám. Búi lá phía trên thì xám úa lưng chừng. Những cuộn sương lơ vơ vờ cuốn lấy mấy tia nắng mong manh để mà có cớ tan biến cho mau…! Ôi, hình ảnh em cười nghiêng nghiêng, chao đổ hết cả mấy cây cột đèn soi đêm im phắc. Hay như lúc em thảng thốt về cuộc đời buồn tẻ bằng chất giọng xao suốt như một đường chỉ mảnh bằng sợi tơ. Thật sao khó mà quên được.

 

Cuối năm. Tôi muốn trả lại mọi sự bận bịu cho đời và nói những lời yêu thương tới hết thảy con người xung quanh. Nhưng hơi lạnh đã trù ếm tất cả. Nó biến điều cố hữu trở nên mặc nhiên. Ấy là việc tôi chẳng khi nào làm được những thứ tôi bỏ công sắp xếp trong đầu. Và vì thế, tôi đi trên đường. Nghe Amsterdam của Coldplay. Lơ đãng tưởng tượng ra vài viễn cảnh hay ho cho câu chuyện nào đó tôi viết, dựa theo mạch cảm xúc mà bài hát mang lại. Và thực sự, ngay tức khắc, lãng quên mất mấy thứ chính yếu mà tôi vừa/đang muốn thực hiện ở cuộc sống thực tại. Dọc các phố sá, tôi ngắm nghía từng mảng thành phố nơi tôi sinh sống. Chẳng có bài nhạc nào về Hà Nội, theo cái cách Chris đã cảm nhận đối với Amsterdam, gợi lên trong đầu. Những dãy dài ô tô. Đèn đỏ, xe cộ dừng lại. Phố bên kia đèn xanh, người hối hả phóng đi; người vừa khua chổi một hồi trước đó, lặng lẽ đẩy xe rác lộc cộc băng đường.

 

Tôi rẽ vào một quán, gọi Dimah trà đào nóng. Thong thả ánh mắt, tâm trí trở về như tờ giấy trắng – không phải một tờ mới tinh, mà là tờ giấy đã được người ta xóa đi những đường chì đậm nét bằng một cục tẩy không lấy làm tuyệt hảo cho lắm. Trà ấm và nồng hương trong cái tiết trời buốt giá khiến tôi nao lòng. Đôi lúc, con người ta cần một chỗ để cô đơn mãi mãi. Như nơi này, như lúc này, như thế này. Giống như những chiếc máy bay đã phải đấu tranh cố thủ mình trong tiềm thức nhân loại cho đến tận những năm 1900 vậy. Khi mà sự sẵn sàng của mọi thứ là chưa đủ. Tôi nhìn chếch mé sang Nhà hát lớn. Đủ màu sắc của quần áo rải trên các bậc thềm. Đa số là gam tối đậm trầm mặc, vài cái nóng – da bò, hai cái trắng muốt như bông trên trời. Ở đây, hiển nhiên là tôi không nghe thấy gì. Tôi chỉ đơn thuần quan sát và thêu dệt nốt phần còn lại. Vài nhóm tĩnh lặng. Một kẻ mấp máy trao đổi. Người khác lắng nghe hoặc thờ ơ, vô định. Vài nhóm khác liến thoắng. Như chợ. Vài nhóm khác nữa thì kích động. Họ cười phá. Những chiếc đèn pha lóa sáng vòng quanh mãi bên chiếc bùng binh trước mặt họ. Không chịu ngừng, như chong chóng.

Gió.

Miền cỏ rì rào.

Tôi – bọ cánh cam – nhấm nháp những giọt sương có vị trà đào lạnh lẽo cuối cùng của dịp cuối năm. Trống rỗng suy tưởng.