Everything was sad in the end

…The writing for the April

Hôm nay, khi tôi ngồi ở quán nước phía đầu một cái làng nhỏ, giữa một cái ngã ba, nhìn bóng mặt trời lặn, gió thổi những triền cát, cả một ngọn núi dài chạy ngang trước mặt, trên đó có đoạn đường tôi đã băng qua khi trời đầy nắng mấy hôm trước, tôi bỗng muốn thay đổi mình. Tôi muốn một lần nữa quay trở lại cái xã hội loài người kia; và sống trong nó. Vào cái lúc ấy, tôi chiêm nghiệm được một điều rằng, nếu tôi chỉ đến quán nước vào buổi sáng, tôi sẽ chẳng thể nào biết được vẻ đẹp của nó vào buổi chiều lại tuyệt vời như thế này. Nếu tôi chỉ đến vào các ngày thứ Ba, tôi sẽ không biết được vẻ đẹp của nó vào các ngày thứ Năm. Và nếu tôi chỉ đến vào ngày thứ Tư tuần này, tôi sẽ không biết vẻ đẹp của nó vào ngày thứ Tư tuần trước sẽ ra sao. Cứ như thế, nếu vẫn đứng ở đây và chối bỏ những lời mời gọi, tôi sẽ tiếp tục bở lỡ những khoảnh khắc đẹp đẽ ẩn mình trong những phút giây nào đó của cái thế giới mê muội kia. Có thể là thế chăng? L chắc sẽ thích thú với điều này lắm. Những kỳ vọng của em về sự thay đổi của tôi cuối cùng cũng có chút kết quả. Dù đã là những ngày xa lắm rồi, từ khi L bắt đầu cố gắng kéo tôi trở lại gần hơn tới cái cuộc sống tôi vốn luôn muốn từ bỏ.

Nó có buồn không khi tất cả mọi thứ đều kết thúc trong nỗi buồn. Thực tế thì đến cuối cùng, cảm xúc không có ảnh hưởng gì nhiều, con người – về cơ bản – luôn có phương cách để vượt qua nỗi đau mà mình phải hứng chịu. Nếu là dễ dàng, nó rất tốt thôi. Còn đối với những điều đau đớn quá sức, chúng ta luôn có thể ngắt phựt cái cầu dao của sự sống. Bụp, trái tim ngừng đập, hồn lìa khỏi xác, thảnh thơi trôi tuốt lên tận trời cao, có khi còn bay được ra cả ngoài không gian vũ trụ bao la nữa. Nhưng, khi tất cả mọi thứ đều kết thúc trong nỗi buồn ấy, ắt hẳn nó sẽ gây ra trong cuộc đời mỗi người một điểm ám ảnh kì dị, mà từ đó, mỗi bước chân ta đáp xuống mặt đất là một cú nhảy trực diện xuống vực sâu nghìn dặm.

Những ngày tháng Tư ở Đầm Môn chỉ có nắng và cát, và hoàng hôn đổ dài trên những hòn đảo ở vịnh Vân Phong. Không có loa kèn hay những cơn mưa ẩn chứa mùi ẩm ướt cũ kỹ của những con phố Hà Nội. Cuộc sống tĩnh mịch và đều đều truyền từ ngày này sang ngày khác, chẳng có nhiều cơ hội để đổi thay. Làng Đầm Môn bé và có hai cái chợ. Chợ chính ở đầu làng chỉ họp vào buổi sáng. Và một chợ cóc, mở suốt từ sáng, lay lắt cho đến trưa, rồi mới đông lên tý trở lại khi chiều về, nằm sâu bên trong làng. Những ngôi nhà của người dân nơi đây, phần nhiều là nhà cấp bốn, chạy men theo mép nước phía ngoài và đồi cát phía trong, uốn lượn mấy hồi, rồi dừng lại tại nơi mà người ta coi việc khai thác cát trở thành một di sản thiêng liêng cần được bảo tồn. Cái công ty khai thác và cái đồi mãi-mãi-không-hết-cát nằm chính ở đó, to uỳnh. Hai cái sự vật ấy cấu kết chặt chẽ, trở thành một thế lực hùng mạnh ngăn trở bất kỳ ông hoàng, bà chúa nào muốn tìm bãi đất bằng phẳng để mà cất lấy một cơ ngơi nhiều đời con cháu cư ngụ; và, như một sự tử tế không có hồi kết, khi đứng trên đồi cát, người ta có thể nhận ngay ra rằng giáp liền với nó, ngay phía bên kia, còn là cái mũi đất cao thành một ngọn núi nhỏ không dễ gì phá dỡ, được tô điểm bởi hàng lô những viên đá tảng trắng phớ, thoắt ẩn, thoắt hiện sau đám cây rừng rậm rạp chìa thẳng ra bờ vịnh. Đi từ đầu làng đến cuối làng, có thể nhìn thấy chỗ nào cũng có bóng dáng của những con thuyền đánh cá. Chúng đậu kín mặt nước khi trời còn hửng sáng và thưa dần khi ánh mặt trời bắt đầu chiếu ngược lại từ phía Tây. Không có những con thuyền quá to; dân chài ở đây chủ yếu đánh bắt gần bờ, ít khi nào họ chu du ngoài biển với lượng thời gian được đếm đến ngày. Họ thường đi chăng lưới suốt đêm và kéo những mẻ cá về vào buổi sáng. Sau đó, họ ngủ đẫy giấc cho đến chiều mới dậy; dậy xong, liền cái là họ lại tất bật chuẩn bị ra khơi, tiếp tục công việc khai thác biển cả cho đến hôm sau. Đều đặn thành một chu kỳ, thành một thói quen. Ngày này nối qua ngày khác. Chỉ trừ những dịp trăng tròn thì gần như báo trước những ngày nghỉ dài; vì biển sẽ không có cá nên khi đó sẽ không có ai buồn ra khơi; những con cá bán ở chợ những ngày rằm, vì thế, sẽ bớt tươi hơn, do chúng nằm trong những lượt cá đánh lên từ hôm trước đang để đông lạnh trên những con thuyền sực lên mùi tanh nồng khó tả khi phải phơi mình trong cái nắng gắt cực độ của miền biển Nam Trung Bộ suốt nhiều giờ liền.

Hôm nay tôi dở chứng muốn xốc cái cơ thể uể oải này lên và vác giày ra chạy chiều. Chìa khóa phòng biến đâu mất khiến tôi phải tìm một lúc; 5 giờ kém, tôi bắt đầu những bước chạy đầu tiên ra khỏi nhà nghỉ, vòng lại con đường dẫn ra bãi biển Sơn Đừng để hướng tới ngôi chùa ở gần cuối đường, nơi tôi vẫn ưa thích ra đó để ngắm cảnh mặt trời lặn sau các hòn đảo. Nắng vẫn còn chiếu xiên hất bóng tôi đổ ngang thành một đoạn dài; ở đây chẳng có gì ngăn chúng lại cả, trừ những chóp núi phía xa và thỉnh thoảng thì có những rặng cát cao nhô lên khỏi triền đất phía bên phải đường nữa. Mồ hôi chảy, tiếng nhạc trong tai, tôi hứng chí hát theo mỗi khi lời ca trở nên da diết, để rồi sau đó phải thở lại, ý là sẽ phải lấy lại hơi thở đều để cho nhịp tim của mình không bị xáo trộn quá. Đôi chân của tôi bắt đầu cảm thấy áp lực từ cả cơ thể đè xuống trên mỗi bước nhún và nhảy. Trong khi cơ đùi phình ra để hợp thức hóa những cử động nặng nề của cái sự chạy, thì những chấn động áp đặt lên cổ chân đang được lan tỏa xuống bàn chân và phân tán ra toàn bộ phần đế giày lẫn mặt đường nhựa phía dưới. Tôi đã nghĩ mình sẽ ngưng chạy để cuốc bộ một lúc, nhưng vì lòng kiêu hãnh mà cho rằng trước đây, ít nhất tôi đã hoàn thành được giáo trình 5K, mới có một tẹo thế này đã là gì, vậy nên tôi cố tiếp tục. Tôi uống một ngụm nước lớn khi những cơn gió ngừng thổi. Nó giải nhiệt khá là tốt lúc cơ thể đang nóng lên từng chút. Con đường tiến sát gần với biển hơn và từ đó tôi bắt đầu nhìn thấy những khu nuôi tôm và cá ở sát bờ, cùng với những bè nuôi thả ở giữa mặt nước. Tận dụng lợi thế trời yên bể lặng khi nằm ở trong vịnh, thì ngoài việc đánh cá ngoài khơi, dân ở Đầm Môn còn thả bè nổi giữa vịnh để nuôi con này con kia, nào thì cá mú, nào thì tôm tiếc các thể loại; còn nuôi cả ngọc trai ở gần Hòn Ông nữa. Có đến hàng chục nhà bè như vậy được dựng lên ở riêng cái vùng nhỏ như hột mít này, chứ chưa nói đến số lượng ở khắp mọi nơi trong vịnh, chắc phải lên cỡ nghìn cái. Mải tính tới đấy thì tôi cũng chạy được đến lối rẽ tới ngôi chùa nhỏ. Nó là một ngôi chùa đã được xây mới, và vẫn đang được cố công hoàn thiện thêm chỗ này, chỗ kia. Có một bãi cỏ khá đẹp, nằm phía trước mặt chính diện của ngôi chùa, và mặt đó lại gần như là hướng chính Tây, nên khi hoàng hôn buông xuống, khuôn viên ngôi chùa bỗng chốc chìm trong sắc nắng hài hòa tuyệt mỹ bởi những vàng, những cam, những đỏ, những tím, những hồng, những xanh đan xen, chuyển biến lẫn nhau. Tôi men theo một lối nhỏ dẫn xuống chỗ gềnh đá sát mặt biển. Ở đó có mấy đứa tuổi vào tầm thiếu niên đang chuẩn bị tắm. Chúng cởi bỏ áo và dép lên tảng đá rồi cứ thế nhảy tùm xuống mặt nước. Bơi được đôi phút, mấy đứa nó lại lội lên tảng đá ngồi “ôm nhau cho ấm”. Trời chiều đã bắt đầu trở lạnh. Gió cũng nhiều hơn. Tôi và bọn nó – có ba đứa – chào hỏi nhau vài câu; tôi để ý thấy có một chú tiểu, chắc ở trong chùa. Rồi bọn nó tiếp diễn trò “tắm biển trong hai phút rồi lại lên bờ” thêm mấy lần; trong khi tôi chỉ đơn giản là tìm một tảng đá thích hợp, đặt mông lên đó và đưa ánh mắt đuổi theo những con sóng nối nhau từng chập, lớp này đẩy xô lớp kia chạy hối về đằng xa. Với tôi, lúc ấy, thời gian chỉ còn là một con số ít ỏi không cần đếm tới; và cuộc đời nhờ thế tạm thời yên ắng, khiến cho cõi lòng mênh mang kia chẳng biết nên nghĩ suy về một điều gì nữa.

6 giờ 20 phút chiều. Những tia nắng cuối cùng đã tắt hẳn. Chỉ còn ánh sáng phản chiếu trên những đám mây tỏa xuống, nhờ thế mà cảnh vật không đến nỗi tối tăm lắm. Tôi rời khỏi ngôi chùa nhỏ, quay lại con đường lúc trước bằng cách thả bộ. Rồi như có điều gì thôi thúc. Tôi bắt đầu những bước chạy. Ngược hướng gió để về làng. Tôi không biết đó có phải điều kỳ diệu không. Bầu trời, sau lúc ấy, dần quang đãng, trong trẻo nhờ những những cuộn mây bị đám gió to cuốn đi xa mất, còn trăng thì khuyết đến vô cùng, in dấu thành một cái liềm sắc sảo, mỏng tang trên cao. Bóng tối, khi đó đã rõ ràng hơn, trở nên lấp lánh, bởi màn đêm bỗng trưng cả một đại ngàn những vì sao giữa tầng không đầy mê hoặc. Bị bao phủ trong cảnh tượng đấy, thật khó diễn tả được hết mọi cảm nhận mà tôi có. Một thứ cảm xúc khoan khoái tràn vào, chạy suốt hết các thớ cơ. Da thịt tê rần. Và con tim chỉ trực nhảy nhót theo lời ca vẳng bên tai. Tất cả mọi thứ tựu chung đều kết thúc trong nỗi buồn. Vậy thì có gì phải ngần ngại, vậy thì có gì phải tiếc nuối. Những thứ đã qua, những điều sắp tới. Nếu nhìn kỹ vào những gì đã lựa chọn trong suốt hành trình của mình, tôi chẳng có gì để phàn nàn về từng lối rẽ tôi đã vẽ ngoằn ngoèo lên tấm bản đồ của cuộc đời. Cuộc đời này là một dòng chảy, nó chẳng phải là một cuộc đua xem ai tiến ra được biển lớn trước, cũng chẳng phải là một sự so kè xem ai có thác lớn, có vực sâu; nó đơn giản chỉ là việc tôi cứ tiến lên không ngừng và lan tỏa vào những chỗ tôi thấy thích hợp. Thỉnh thoảng tôi có va vấp và buồn đời một tý, nhưng dù sao thì dòng nước luôn chảy về chỗ trũng. Cho đến cuối cùng, sau khi các sự kiện đã hoàn thành cái sứ mệnh tất yếu của chúng, tôi sẽ lại tìm được nơi trũng sâu trong lòng mình để mà hân hoan, để mà hài lòng, để mà thỏa mãn về tất tần tật mọi thứ đã xảy đến với cuộc đời của mình như lúc này. Ờ thì dường như tất cả mọi thứ đều buồn bã vào cái phút cuối, nên tôi nghĩ rằng tôi sẽ chạy suốt từ đây về tới tận nhà nghỉ mà không ngừng dù chỉ một giây nào hết, tựa một mũi lao xuyên qua cơn gió, lấy ngay chính nỗi buồn sau chót làm vòng hồng tâm êm ái để nhắm vào.

Hôm nay, từ sáng sớm, tôi bắt xe buýt ra thị trấn Vạn Giã để kịp một chuyến tàu nào đấy ra đảo Điệp Sơn. Tôi thì nghĩ rằng Điệp Sơn vốn không đẹp, chỉ là vì hiếu kỳ một hòn đảo nhỏ nằm giữa lưng chừng vịnh Vân Phong nó sẽ thế nào. Tôi tìm thấy tàu Phượng Đồng ngay bến Vạn Giã. Tôi gọi điện thoại cho anh chủ tàu thì được biết 8 rưỡi tàu mới rời bến. Vậy là tôi tranh thủ kiếm đồ ăn và loanh quanh chỗ cầu cảng để thấy được khung cảnh nhộn nhịp trước khi tàu khởi hành. Người ta chở mọi loại nhu yếu phẩm, đồ đạc ra Điệp Sơn. Đồ ăn, thức uống, cả chục cây nước đá mát lạnh, cột làm nhà, mấy thiết bị kỹ thuật sửa chữa máy móc gì đó. Theo tôi thấy thì đủ cả. Và ngày nào cũng có tàu đi về như vậy, vừa chở người dân, vừa chở hàng hóa các thứ. Quá 8 rưỡi thì các sợi dây tời buộc vào cầu cảng mới được tháo ra, tiếng máy nổ phành phạch cất lên và con tàu tách bờ, chầm chậm xoay mình rồi hướng mũi ra khơi. Tàu chạy chéo góc so với đường bờ biển, chếch lên phía tây bắc. Lúc này, Điệp Sơn chỉ là một mô đất nhỏ tí ở tít đằng xa. Mặt biển ngời lên xanh biếc. Những cuộn sóng bị mũi tàu tách ra làm đôi hết lần này đến lần khác. Có một con chim hải âu đậu trên chiếc cọc tiêu cắm giữa lòng biển dõi nhìn con tàu với một thái độ hoài nghi lạ lẫm. Trong thế giới của nó, cái loài vật con người thật hết sức biết cách giải trí bằng cách tụ tập nhau trôi nổi trên một tấm gỗ được thiết kế kì dị. Cái loài vật mà triết lí sống không được đặt trên đôi cánh và bộ lông vũ đang lao đi với một sức mạnh nào đó nó chưa hiểu hết được. Dù sao thì trông cũng khá khôi hài, có thể khiến nó tiêu khiển được một chút sau bữa sáng đậm hương vị cá mòi nó vừa dùng xong. Còn trong thế giới của những con người trên tàu, một con chim hải âu đứng trên chiếc cọc tiêu bằng đôi chân của chính nó thì chẳng có gì phải để ý. Một con chim thì chẳng có nghĩa lý gì, so với những câu chuyện các mẹ đang kể nhau nghe huyên náo giữa khoang chất hàng, so với điếu thuốc đang cháy trên môi người cha ngồi khuất đằng sau đuôi tàu, so với tiếng khóc của đứa bé chưa đầy một tuổi vẳng trong ca-bin chở khách, so với ánh mắt sâu thẳm người ta dành cho đường chân trời và cho dải đất liền đang dần cách xa mỗi khi có những khoảng im lặng hiếm hoi bất ngờ xuất hiện chiếm hữu bầu không khí nơi đây. Tôi là một con chim hải âu trong thế giới loài người, nhưng đồng thời triết lí của tôi lại không đặt trên đôi cánh bay lượn. Tôi hoài nghi sự gắn kết, lời đối đáp trong tiếng nói giữa những con người ấy với nhau; tôi thầm quan sát cách họ vung tay và cách ánh mắt họ chạm tới cái nhìn của người đối diện. Mỗi cử chỉ, mỗi âm thanh, sự bày tỏ thái độ thông qua những lớp cơ mảnh dẻ dưới làn da trên từng khuôn mặt đều được tôi kiên nhẫn ghi lại vào trí óc. Tôi mơ hồ nắm thóp được cuộc đời mỗi con người có mặt trên tàu. Nhưng chẳng để làm gì. Tôi chụp cho họ một kiểu ảnh, theo như yêu cầu, nhân lúc ống kính đang nấn ná ở một khung trời xa, và họ thì bảo, ‘sao không chụp cho bọn cô một tấm’.

Điệp Sơn là một chuỗi ba hòn đảo nối với nhau thành một hàng thẳng. Nếu đứng từ dưới đáy biển nhìn lên thì nó hẳn là một dãy núi dưới trung bình với ba mỏm núi không quá cao lắm. Trên đảo chính, đảo ngoài cùng bên tay phải, khi nhìn từ hướng biển Đông vào, còn gọi là hòn Bịp, có một ngôi làng mang chính tên Điệp Sơn. Dân cư tập trung ở đó, với những ngôi nhà gạch nho nhỏ, và những khoảng sân rộng. Khi chiếc tàu Phượng Đồng cập bờ, người này người kia kéo đến để lấy hàng chật ních cả bến cảng. Cảnh tượng thật nhộn nhịp chẳng khác gì một buổi chợ phiên vừa đến tầm, đối nghịch hẳn với khung cảnh mặt nước xung quanh, nơi mà nhiều con thuyền của ngư dân trong làng nằm thả neo, chụm vai vào nhau, trầm mình tĩnh lặng trong giấc ngủ sau một đêm bận rộn đánh bắt cá ngoài khơi xa. Tôi đi xuyên qua làng, theo những con hẻm nhỏ, để đến phía bờ biển nơi có con đường cát trắng nối từ đảo này sang đảo khác, nằm ẩn dưới làn nước mặn. Ở phía đó, có một nhà hàng khá rộng rãi, mở ra để phục vụ những lượt khách du lịch thường chỉ ghé bằng ca-nô đến đảo nội trong ngày, từ sáng cho đến chiều. Nhà hàng còn đang cho xây thêm những chòi lớn và nhà phục vụ để khách có thêm không gian vui chơi. Tôi bắt chuyện và làm thân được với nhóm thợ xây dựng đang làm ở đấy. Họ ở bên đèo Cổ Mã sang thực hiện công trình này đã được hai tháng. Ở đảo chẳng có gì ngoài nắng, công việc lao động chân tay khiến người ta rất chóng mệt. Cả một thùng cỡ tám lít chứa trà đá vơi dần trong khoảng hai tiếng, cho đến giữa trưa là cạn. Giữa trưa cũng là thời điểm mọi người ngừng tay để ăn uống và nghỉ ngơi cùng nhau. Những cơn gió bắt đầu trào lên khiến không khí dịu bớt sự oi ả của mùa hè. Mấy người thợ ở đây khá là khoái chụp hình. Họ hỏi tôi về máy móc, rồi ống kính các thứ, đồng thời khoe những chiếc điện thoại xịn mà họ dùng để chụp biển và bầu trời. Ăn uống xong ai nấy đều lăn ra những phiến gỗ bản dài để ngủ. Tôi cũng vậy. Sao ở đây bình yên và đơn sơ đến thế. Tôi nhìn vô định vào chiếc vì kèo đỡ lấy phần mái nhô ra của căn chòi. Rồi thiếp đi trong ánh nắng chan chứa và gió biển ngập tràn.

Buổi trưa trôi qua. Chiều đến. Những du khách đến đảo thưa dần. Còn chưa đến xế mà bãi biển hầu như đã không còn ai. Nhà hàng bắt đầu dọn dẹp, sắp xếp bàn ghế gọn ghẽ để đón khách vào hôm sau. Hai con đại bàng, vốn dành cho du khách chụp hình hoặc thích thú hơn là chơi trò ‘bổ nhào từ trên không, chao liệng một cái rồi tìm đậu trên tay’ mấy vị khách, được cho bay lượn lần cuối, rồi cũng theo hai người huấn luyện chuẩn bị lên ca-nô về bờ. Qua đợt bão hồi cuối năm ngoái, Điệp Sơn vẫn còn đó những dấu tích chưa phai. Những rặng dừa ngả nghiêng không hàng lối. Con đường cát nối giữa các đảo bị sóng đánh dạt mất, chìm sâu trong lòng nước, rất khó nhìn thấy, nhất là khi bóng mặt trời bắt đầu lẩn vào phía sau những tầng mây dày ở phía đằng Tây. Tôi quyết định thử tìm lối băng sang đảo bên kia, bằng cách hướng theo mũi cát đang lộ ra khi nước triều bắt đầu rút đi. Từng cơn sóng đẩy nhẹ qua chân. Mặt cát thoải dần, thoắt cái mực nước biển đã chòng chành đến đùi, rồi đến hông và bụng. Xa phía trước, một con thuyền chạy vượt ngang tuyến đường mà tôi định đi, cho thấy mực nước chỗ đó đủ sâu để chân vịt không bị vướng vào những cây tảo biển mọc đầy ở dưới. Tôi hơi ngần ngừ, xong vẫn tiếp tục tiến lên. Được gần nửa đường, nước đã dâng đến xém ngực. Thêm một đoạn nữa, nó vẫn giữ nguyên như vậy. Tựa như tôi đã chạm tới bình nguyên của lòng biển. Mặt nước lúc này êm đềm, chỉ có những ngọn sóng nhỏ nhấp nhô, chấp chới di chuyển theo làn gió thổi về phía đất liền. Mặt đất dưới chân tôi là một nền phẳng không còn cảm nhận được độ nghiêng nữa. Những nhánh tảo mọc thành bụi dày đặc hơn, có khi còn hợp với nhau thành cả một khu công viên sinh thái lớn. Tôi khá tránh đi vào mấy chỗ tảo rậm rì đó vì sợ có sinh vật nào đó không hay ho lắm trốn ở trong. Và tôi thì đang đi chân trần dưới lòng biển nữa. Tôi chẳng mang đôi dép nào theo và giày thì không thể để ướt được. Thế là ngay từ đầu tôi đã lội chân không xuống biển. Nhờ vậy mà tôi mới ghi nhớ được rõ ràng con đường bên dưới vào trong đầu mình. Thực ra thì cũng không có gì; ngoài cát, sẽ có sỏi, những mảnh sò hoặc trai, hến đã vỡ, những vỉa đá nhỏ hoặc lỗ rỗ hoặc sắc lẹm nhô lên khỏi nền cát, những dây tảo biển đung đưa cuốn lấy chân, một vài loài giáp xác điển hình như cua thấy động là chạy khỏi chỗ nấp; nhưng bằng cách “sờ” qua hết những thứ ấy bằng chính đôi bàn chân của mình, tôi thực sự cảm thấy gần gũi hơn với chúng. Thậm chí còn có phần thân thiết theo một lối nào đấy. Càng đến gần hòn đảo bên kia, đáy biển càng trở nên gồ ghề. Những cụm đá to hơn và sắc cạnh hơn, chúng chiếm hết khoảng không để di chuyển. Mỗi bước tiến của tôi thành ra gặp khó khăn vì cứ đặt chân xuống là bị đá cứa phải. Tôi dừng lại, thoáng lưỡng lự rồi bỏ cuộc, không muốn tới bờ bên kia nữa dù chỉ còn khoảng năm mươi mét. Tôi bỗng muốn đi tìm một thứ khác. Một thứ hấp dẫn hơn.

Khi ở giữa biển khơi như thế này. Nếu có thể biến mất mãi mãi. Chỉ cần cứ bước đi. Xa hơn. Xa hơn nữa. Tận sâu vào trong lòng biển cả mênh mông nước. Không bao giờ trở lại. Tôi nhớ đến những người đàn bà của biển trong Bão. Mường tượng cách họ lặn ngụp trong làn nước xanh thẳm, mường tượng ra tiếng kêu của họ cất lên mỗi khi họ trồi lên từ phía đáy biển. Cuộc sống của họ hẳn là kỳ thú, đối với người ngoài, như tôi. Nếu có một cuộc đời tự do như họ, hiển nhiên thật tuyệt vời. Nhưng khi tôi đứng giữa khung cảnh ấy, lúc mực nước đã trào qua quá ngực, tôi đã thấy một nỗi cô đơn khủng khiếp bao trùm lên nỗi lòng của họ vào cuối những buổi chiều hôm. Mặt trời chìm vào làn mây sau rặng núi xa. Ánh sáng mà nó để lại biến thành một dải ráng hồng loang trên nền trời mù mịt. Đường bờ biển lấp loáng những ngôi nhà nhỏ đã lên đèn. Từ trên cao, bóng tối sà xuống một cách chậm rãi, tóm lấy mọi cảnh vật trong tầm tay và vứt chúng vào trong vạt áo choàng đen đúa của mình. Tôi, khi đó, đã đi khỏi phạm vi rìa của hai hòn đảo được một quãng, hướng về phía đất liền. Nếu tiếp tục tiến bước, chẳng mấy chốc tôi sẽ rơi vào vùng lòng chảo sâu đến chừng nào không biết. Thân xác tôi đang được vây quanh bởi bốn bề là những đợt sóng nước dập dềnh nhô lên hụp xuống. Gió chiều lại đang trở lạnh. Phải chăng đấy là một khía cạnh khác của tự do mà tâm trí tôi đang dấn thân vào. Thiên nhiên và con người có khi cùng một giuộc với nhau cả. Có lẽ là thế. Chúng ta cứ sống theo cách mà chúng ta muốn, theo đuổi giá trị bằng thứ sức mạnh nhấn chìm kẻ khác. Chúng ta chẳng bao giờ tự hỏi tại sao lại thế, nhưng rồi khi đối diện với nỗi lòng mình, khi những người đàn bà của biển thoái thác một cuộc đời khác của họ sau lưng, hay khi những cơn bão quên đi rằng nó đã từng sống những tháng ngày yên ả, chúng ta lại cảm thấy lạc lõng ngay ở cái nơi chúng ta đang thỏa sức vẫy vùng. Giá như có thể liều lĩnh thử vận may của mình một lần duy nhất trong đời. Một lần cho tất cả. Rốt cuộc, khi tất cả mọi thứ đều kết thúc trong nỗi buồn. Thì trên con đường đi tìm tự do, mọi thứ, thôi, vốn dĩ cũng đã thật buồn bã.

Hôm nay, tôi nhận ra rằng mình đã dành tình cảm cho C. thật là nhiều. Ngày nào tôi cũng mong ước được gặp C. và nghe cái giọng nói khiến tôi nhung nhớ suốt mấy tuần trước. Có lẽ vào một lúc nào đấy tôi sẽ nói thích nàng. Nhưng, lại có lẽ lần nữa, là ngày đó còn xa vời quá; chính tôi không biết tại sao nhưng nó cứ diễn tiến như vậy. Sài Gòn, đang là mùa nắng. Hay đang là mùa mưa. Đôi khi, ở một mảnh đất xa lạ, bạn sẽ không cố gắng tìm hiểu mọi thứ nữa. Thời gian trôi nhanh hơn hay chậm đi, nó cũng chẳng thành vấn đề. Bạn sẽ không quan tâm Sài Gòn đẹp nhất khi nào, hay ở đâu, dù thỉnh thoảng bạn có đề cập chuyện đó trong một buổi cà phê lúc chớm chiều với một người Sài Gòn kiên định nào đấy. Thậm chí, bạn sẽ không chú ý tới cả những con đường trong một thời gian dài, mặc cho bạn có qua lại cùng một ngả ngã tư không biết bao nhiêu lần. Cuộc sống luôn tồn tại một sự mờ nhòa. Bạn quên đi những nơi bạn đến, những con người bạn gặp. Những thói quen cũ trở nên xa xỉ rồi dần biến mất. Hà Nội, những ngày mưa rất rát, sủi tăm cả mặt đường. Cơn mưa rào phả mùi đất và mùi rễ cây nóng hổi vào trong không khí. Mùa hè là mùa nhộn nhịp của những màu sắc đan xen lúc tan tầm. Những chiếc đèn pha xe cộ trở nên dịu dàng hơn qua lớp áo mưa. Ve thôi kêu, hoặc bị át đi bởi những hồi còi rắt réo. Khi ngồi thu lu một góc bên cửa sổ và trái tim đang hát bài Mọi thứ rồi sẽ kết thúc trong nỗi buồn, tự nhiên những vệt nước lấm tấm phía ngoài ô kính trong trĩu xuống, hòa quyện với nhau thành một dòng chảy khó đoán định tràn xuống mép cửa, căng mọng lên thành một giọt pha lê, rồi rơi xuống cả biển phố buồn bã phía dưới.

The ending day of the world 3 (or “We’ll never know”)

If you read the part 1 and 2, then you should be happy now, ‘cause this is part 3 from series of mine: {The ending day of the world}.

You could read old parts (in Vietnamese) at:
– Part 1: The ending day of the world (1)
– Part 2: The ending day of the world 2 (or “Never-ending stories”)

Glad to write this in English. But that’s no problem. I’m practicing my ability itself.

***

It’s so long from the first time when I wrote `your` name softly on a white paper, smiling as if it (called “love”) would never happen to me once again – specially that if it were caused by `you`. “Ooh, it’s just something.. only something strange.. `Love`, isn’t a right word to describe my feeling.. but no other suitable words are found..”. “Maybe `you`?? No!!”. “Will I love `you` like this way? Sure that no.”. I started to get `you` outta my head, like the way the ocean waves do, to erase footprints on the shore; but I was not as fully strong as them; I was really not heartless enough, or (I’m sure that!!) `you` weren’t sand. Oh, I could not be as a cold cold wind, blowing through everywhere, from north to south, east to west, bringing winter onto lands, making snowflakes fall down on fields and gardens, then leaving, suddenly; all things melted into water; nothing left to remain. “Oops! I must be crazy. Or a bit like crazy. Call me a dreamy night.”. But by the way, I couldn’t stop talking to `you` everyday, as well as kept caring and worrying about `you` everytime.

Then now, “I love `you`. And it’s true.”..

It’s so long from the day I was born in Hanoi. I’m always happy with being born and living my whole life here. But it’s not the reason why I love this city, for ever. Two years ago, a big anniversary was celebrated when Hanoi got 1000 years of age. “`It’s gonna be an ancient town soon` – I completely agree with my idea, as time still goes by fast like a super rocket now.” But that’s still not the reason I wanna mention. Yeah..

I sometimes walked in the rain of Hanoi, with no hats, no raincoats or umbrellas, felt the sadness running down on my cheeks. Actually, I didn’t hate rain as much as I usually said. I liked the way it made me wet and get heavy, and helped me to join the rhythm of the most natural things in this world. I liked the way it rained carresingly on Sunday. I also liked the way it rained in the afternoon, so gently; millions of droplets of water were sparkling under the shimmer of the sun. And when it rained at night, I liked stepping lonely in the dark. Just to know everything I had done was right. Not to grow up like plants. I liked seeing neon lights blurring in my eyes. Then, scenes in front of me were like being backward to the past, or like being forward to the future. Hey, I couldn’t reach them. They were real, but also seemed to be unreal. I got confused. And as it was in a fairy-tale,  I always imagined that something magical would occur at the end of the road I was walking on, when the rain disappeared entirely into its rest. But exactly what was ‘something’? I never did this expectation carefully. Might be `you`? I wondered.

I sometimes sat with my friends, or even with myself – I preferred this – at any familiar small corners in Hanoi; and drank coffee – a glass of coffee mixed with a little condensed milk. I often had nothing much to speak, to them – my friends in case they were there, and nearly fell into state of silence immediately. In fact, I didn’t care people’s talking; I didn’t mind any conversations which did not relate to me directly. I liked acting as a stone, lying in peace and musing upon the distant void. Well, it was better for me to keep my mind as empty as possible, or it would explode due to thousands of ideas born per second within; and only bitter-sweet caffeine could do this unseenable task. I liked using spoon to slowly stir my glass of coffee many times till coffee and milk twisted into steady circles before drinking any from it. While noises were still around, I was very supposed to hear nothing and there seemed that no sound of any words rolling in the air could affect me. “Am I losing deeply in somewhere?” I used to ask myself this question. I guessed I was on the path to a place named “The Eternity of Balance” – where my overflowing thoughts could be converted into nutritive foods which then served as a delicious supper for my screaming stomach at night. Was I fantasizing? I wondered.

I’m trynna catch the moment escaping from my fingers. It goes so fast. My memories are corroding in every minutes. And I’m forgetting what I need remembering. I can’t control the blink of every neurons in my brain. They are now working for their own happiness, not mine. So, what’s up? My mind considers itself a funny miscellaneous massive mess. It causes a huge problem of operating and co-operating what I see, what I hear, what I smell, .., then to what I think. I wanna save some voices. But I’m not allowed to do it. Permissions are firing somewhere out of my hands. And with no new useful introductions for this unkown condition, I stand there, don’t know what to do, see everything fading away, little by little. Yeah, I can wish something. But wishes won’t make any changes. So I give up and aim to sleep. Dream a dream.

Well, where we are coming at? At where our hearts are jumping to. Don’t fear anything. Do what you need to do. Correct what you did wrong. Stand up soon right after you fell. You only live once. Live it best with no regrets; then readily welcome you to the death. Just smiling. Death never harms you. He’s only a friend coming up next after your previous friend (known as ‘life’) is gone forever and ever. And he will take care of you till the last. The last? What do I mean? I have no point of view about it. And you should have, too. Oh no, I’m not saying that we are all coming at death. I referred that we had better come at where ours hearts jump to. Is it done? I’ll never know.

I’ll never know anything, but something I have known or did know. And I did know for so long that I’m loving `you` so much, loving `you` best with no regrets. I’m not readily loving `you` while smiling to the death; so it sounds better to know that I’m loving `you` at anywhere my heart’s jumping to.

I rarely dreamed about `you`. But when I did, the dreams always caused me to wake up scarely. I had no permits to complain of my stupid mind – it did its own private work as usual – but, it was only that I hated facing to the darkness at midnight and hated to feel missing `you` instead of every stars twinkling up high above the poetic sky. I hated the way `you` runned away and got dangers in every dreams of mine. And there was like no chances for me to catch `you` stopping, or more correctly was, to catch my mind stopping its foolish action of madness. Oh it’s surprisingly, I still remembered `you` and `your` charming voice. Clearly to now.

Clearly. I’m riding on my bicycle round Sword Lake in Hanoi. It’s crowded here, there and everywhere. On streets, on lakeside, on pavements, in Ly Thai To Flower Garden, at Dong Kinh Nghia Thuc Square, people enjoy shouting, laughing, walking, sightseeing, talking, jogging, driving. They’re all happy. Aren’t they?! I’m sure that they are. If not, they don’t come here to dissolve themselves in so much damn fucking noises and in many dull yellow lights from streets’ lamps, halls’ lamps or restaurants’ lamps. It’s funny when I’m here, too; hiding all my sadness behind my `blue` eyes, just to join the city’s daily social living. It’s funny when I’d rather be alone at where people show up their animation without any splendid shame. I wanna feel the spiritedness from them; then get it back in my letters. For me, humans are worth great creatures that need to survey and research minutely. I like to work on them whenever having free time. Mindfully, I’m drawing their actions, their smiles, their cheers, their jokes into the wrinkled part of irresolution of my brain. And later, at several amazed moments, I will remember them, feel their emotions like those are mine. Then write something about life, death, devotion and sacrifice. In some backgrounds that only I know.

I’m wondering how to end up all. We don’t usually know how to end up everything, and give out questions of it. But it seems that nothing of all needs to be ended.

I’m drinking coffee – a glass of coffee stirred steadily with a little condensed milk – at the top of my house. It’s windy and the scenery is immense. Night covers all with his shadow of dark. There’s still the moon and a few stars hanging on the sky’s curtain. But they shine slowly. The air sometimes keeps silent, then breezes have their opportunities to come after and give my ears some whishpers from so-far lands where the autum has begun from the start. The hot weather falls to cool down. Everything is in a good mood. But I feel lacking the rain. Rain will make everything better. And better.

Cause I’m missing `you` tonight. And I wanna..

Listen to the rhythm of the falling rain.
Telling me just what a fool I’ve been.
I wish that it would go and let me cry in vain.
And let me be alone again.
The only girl I care about has gone away.
Looking for a brand new start.
But little does she know.
That when she left that day.
Along with her she took my heart..